Chương 1: Khái niệm, xu hướng vận động của dòng FDI và sự cần thiết trong việc thu hút nguồn vốn FDI vào Việt Nam Chương 2: Biến đổi cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài ở Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2008 Chương 3: Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến kinh tế – xã hội Việt Nam từ năm 1988 đến năm 2008 - 18 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 KHÁI NIỆM, XU HƢỚNG VẬN ĐỘNG CỦA DÒNG FDI VÀ SỰ CẦN THIẾT TRONG VIỆC THU HÚT NGUỒN VỐN FDI VÀO VIỆT NAM 1. Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment) Đầu tư nước ngoài, trong nhiều thập kỷ trở lại đây, đang là một trong những hình thức đầu tư hết sức phổ biến và đóng vai trò quan trọng trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Đầu tư nước ngoài về cơ bản có thể xem là sự di chuyển các luồng vốn từ quốc gia này sang quốc gia khác nhằm thu về lợi nhuận cho nhà đầu tư. Đầu tư nước ngoài được thực hiện thông qua 2 hình thức chủ yếu là: đầu tư gián tiếp nước ngoài (Foreign Indirect Investment – FII) và đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment – FDI), trong đó đầu tư trực tiếp nước ngoài được xem là hình thức đầu tư quan trọng bậc nhất.
Tuy nhiên, có lẽ cũng bởi vai trò quan trọng của nó mà đã có nhiều định nghĩa về FDI được đưa ra. Phổ biến và thông dụng hơn cả là định nghĩa của các tổ chức tài chính và kinh tế quốc tế. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund – IMF), đầu tư trực tiếp nước ngoài là vốn đầu tư được thực hiện nhằm thu về những lợi ích lâu dài cho doanh nghiệp hoạt động ở nền kinh tế khác với nền kinh tế thuộc đất - 19 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nước của nhà đầu tư. Mục đích của nhà đầu tư là giành được tiếng nói có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó [41, tr.
Theo Tổ chức Thương mại Thế giới (World Trade Organization – WTO), đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước chủ đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác. Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh. Trong những trường hợp đó nhà đầu tư thường hay được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.
Ở Việt Nam, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm như sau: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này [34, tr. Từ năm 1996, với việc ban hành mới và đưa vào áp dụng Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam trên cơ sở Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987 cùng các lần sửa đổi, bổ sung của Luật này, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài được hiểu là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào khác để tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam [34, tr. Đến năm 2005, với việc ban hành Luật Đầu tư áp dụng chung cho cả đầu tư nước ngoài và đầu tư trong nước thay thế cho Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1996, khái niệm đầu tư nước - 20 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ngoài tiếp tục có sự điều chỉnh tương thích với sự thay đổi trong nhận thức của những người lãnh đạo, những người hoạch định chính sách và những người làm luật. Theo đó, Luật nêu ra rằng, đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành hoạt động đầu tư.
Như vậy, mặc dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau, nhưng về cơ bản, đầu tư trực tiếp nước ngoài có thể xem là loại hình di chuyển vốn giữa các nước, trong đó người chủ sở hữu vốn đồng thời là người trực tiếp quản lý, điều hành hoạt động sử dụng vốn và phải chịu trách nhiệm trực tiếp trước kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đó. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Trên phương diện kinh tế, phải thừa nhận một thực tế là, trong các hoạt động kinh tế nói chung, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài nói riêng, yếu tố nguồn vốn luôn đóng vai trò quan trọng và không thể thiếu, nó là yếu tố tiên quyết, là cơ sở, là phương tiện và là chìa khoá để nhà đầu tư tiến hành các hoạt động đầu tư, sản xuất kinh doanh. Vốn đầu tư có thể hiểu là lượng tiền hoặc tài sản mà nhà đầu tư sử dụng để tiến hành các hoạt động đầu tư sản xuất, kinh doanh. Tương ứng với các cách phân loại đầu tư quốc tế người ta cũng sử dụng những tên gọi khác nhau để chỉ nguồn vốn đầu tư theo từng loại hình đầu tư, chẳng hạn như: vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI), vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (vốn FII), vốn viện trợ phát triển (vốn ODA),… Các nguồn vốn đầu tư này, suy cho cùng, về căn bản đều mang những đặc điểm của vốn đầu tư nói chung, sự khác nhau có chăng là ở cách thức và mục đích mà nguồn vốn đó được - 21 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sử dụng.
Ở phương diện này, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài – vốn FDI, hiểu một cách khái quát nhất, có thể xem là nguồn vốn mà thông qua đó nhà đầu tư sử dụng để tiến hành các hoạt động đầu tư trực tiếp ở nước ngoài. Cơ cấu vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Cơ cấu là một phạm trù dùng để biểu thị cấu trúc bên trong, tỷ lệ và mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành hệ thống. Từ hệ quy chiếu đó, áp dụng để xem xét nguồn vốn FDI trên phương diện cơ cấu, có thể hiểu cơ cấu vốn FDI là tổng thể các bộ phận FDI có mối quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành. Cơ cấu được thể hiện ở tỷ lệ, tỷ trọng và vị thế của từng bộ phận trong tổng thể.
Căn cứ vào các tiêu chí khác nhau, người ta phân loại cơ cấu vốn FDI thành các kiểu loại khác nhau. Trong phạm vi luận văn này, xuất phát từ mục tiêu đề tài, tác giả tập trung nghiên cứu bốn loại cơ cấu vốn FDI dựa theo 4 tiêu chí như sau: – Thứ nhất, căn cứ vào tiêu chí khu vực kinh tế tương ứng có cơ cấu vốn FDI phân theo khu vực kinh tế. – Thứ hai, căn cứ vào tiêu chí hình thức đầu tư tương ứng có cơ cấu vốn FDI phân theo hình thức đầu tư. – Thứ ba, căn cứ vào tiêu chí vùng lãnh thổ tương ứng có cơ cấu vốn FDI phân theo vùng lãnh thổ.
– Thứ tư, căn cứ vào tiêu chí đối tác đầu tư tương ứng có cơ cấu FDI phân theo đối tác đầu tư. - 22 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Xu hướng vận động của dòng FDI trong những thập niên gần đây Từ khi xuất hiện cho đến nay, hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài đã có nhiều biến đổi sâu sắc mà xu hướng chung là ngày càng tăng về số lượng, quy mô, lĩnh vực, thị trường đầu tư và ngày càng nâng cao vị thế, vai trò trong các hoạt động đầu tư quốc tế. Trong vài thập niên trở lại đây, sự vận động của dòng FDI trên thế giới diễn ra khá mạnh mẽ, nhanh chóng với một số nét đáng chú ý sau: Thứ nhất, đầu tư trực tiếp nước ngoài đã và đang phát triển rất nhanh cùng với quá trình khu vực hoá, quốc tế hoá, toàn cầu hoá sâu rộng nền kinh tế thế giới và đang trở thành một hình thức đóng vai trò quan trọng vào bậc nhất trong hoạt động đầu tư quốc tế.
Theo báo cáo đầu tư của UNCTAD, không tính dòng ra của FDI (FDI outflows), thì từ những năm 70 của thế kỷ XX trở lại đây, dòng vào của FDI (FDI inflows) đã tăng khá mạnh. Năm 1970, dòng vào của FDI trên thế giới mới là 13,417 tỷ USD thì đến năm 1980 đã là 55,272 tỷ USD, tăng hơn 4 lần so với năm 1970. Mười năm sau đó, tức năm 1990, con số đã đạt tới 201,614 tỷ USD. Đặc biệt, năm 2000, sự phát triển mạnh mẽ của xu hướng sáp nhập và mua lại các công ty để thành lập nên những công ty và tập đoàn khổng lồ của thế giới đã đẩy dòng FDI lên cao và đạt mức kỷ lục với 1409,568 tỷ USD.
Từ năm 2001 trở đi, do trào lưu sáp nhập và mua lại đã ít nhiều bị ngưng trệ cũng như do tác động từ sự suy thoái của nền kinh tế thế giới, nên dòng vào của FDI liên tục sụt giảm từ 832,248 tỷ USD (2001) xuống còn 557,869 tỷ USD (2003). Đến năm 2004, với những dấu hiệu khởi sắc của nền kinh tế thế giới, tình trạng sụt giảm của - 23 - LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dòng FDI chẳng những đã được chặn đứng mà dòng FDI còn đang tăng trưởng trở lại, thậm chí đó là một sự trở lại có thể nói là rất mạnh mẽ. Biểu hiện là, năm 2004 dòng vào của FDI trên thế giới đạt 710,755 tỷ USD thì đến năm 2005 con số này đã tăng lên thêm 205,522 tỷ USD, đạt 916,277 tỷ USD 1. Năm 2006, sau đúng 6 năm, tổng giá trị dòng vào của FDI trên thế giới đã quay trở lại ngưỡng trên 1000 tỷ, đạt 1461,863 tỷ USD, đồng thời vượt qua kỷ lục của năm 2000.
Trên đà tăng trưởng đó, dòng FDI nhanh chóng thiết lập kỷ lục mới trong năm 2007 với tổng giá trị lên tới gần 2000 tỷ USD, chính xác là 1970,940 tỷ USD.