TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI KHOA PHÁP LUẬT KINH TẺ NHỮNG BÁT CẬP TRONG QUÁ TRÌNH ÁP DỤNG THUÊ THU NHẬP CÁ NHÂN Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Hà Nội, tháng 6 năm 2020 MỤC LỤC STT THAM LUẬN TÁC GIÁ TRANG 1 Thuc trang phap luat quy dinh về chủ thé nộp TS. Nguyễn Minh Hằng 3 thuê thu THẬN Thất Trường Đại học Luật Hà Nội 2 Thực trạng pháp luật quy định về thuế thu nhập cá | Ths. Nguyễn Mai Anh 13 nhân đôi với thu nhập chịu thuê từ kinh doanh Trường Đại học Luật Hà Nội 3 Cá nhân kinh doanh trực tuyến và vấn đề thực thi | PGS,TS. Phạm Thị 33 pháp luật vê thuê thu nhập cá nhân Giang Thu 7zưởờng Dai học Luật Hà Nội 4 Những bắt cập của pháp luật thuế thu nhập cá Ths.
Lương Linh Chỉ 40 nhân từ tiền lương, tiền công - Kiến nghị và đề Trường Dai học Me Hà Nội xuất 5 Thực trạng pháp luật quy định về giảm trừ gia Ths. Nguyễn Ngọc Yến 52 canh trong thué thu nhap ca nhan Trường Dai học Luật Hà Nội 6 Thực trạng pháp luật quy định về thuế thu nhập cá | Ths. Dao Ánh Tuyết 65 nhan doi voi thu nhap chịu thuê từ dau tu von, Trường Dai how Duật HỖ Nei chuyên nhượng von if Pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập Ths. Phạm Nguyệt Thảo 77 từ chuyên nhượng bat động san Trường Đại học Luật Hà Nội 8 Thực trang pháp luật quy định về thuế thu nhập cá | Ths.
Nguyễn Mai Anh 89 nhân đối với thu nhập chịu thuế từ tring thưởng, Trường Đại học Luật Hà Nội thừa kế, quà tặng 9 Thực trạng pháp luật quy định về thuế thu nhập cá | Ths. Nguyễn Ngọc Yến 102 nhân đối với thu nhập chịu thuế từ bản quyền, Trưởng Đại học Luật Hà Nội nhượng quyền thương mại. 10 Thực trạng pháp luật quy định về quan lý thuế thu | Ths. Nguyễn Thu Trang 109 Thập: Gá Hồn Trường Đại học Luật Hà Nội 11 Bảo vệ quyên lợi người nộp thuế trong pháp luật | TS.
Nguyễn Thi Thanh Tú 118 thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam hiện nay Truong Đại học Luật Hà Nội THUC TRẠNG PHAP LUẬT QUY ĐỊNH VE CHU THE NOP THUÊ THU NHẬP CÁ NHÂN 1S. Nguyễn Minh Hằng! Dẫn nhập Thuế thu nhập cá nhân không chỉ là nghĩa vụ của mỗi công dân với quốc gia ma còn thê hiện định hướng phát triển của quốc gia đó. Đến nay, đã có hơn 180 nước trên thế giới áp dụng thuế thu nhập cá nhân. Có thé nói, việc ban hành Luật thuế TNCN năm 2007 là phù hợp với thông lệ quốc tế và phù hợp với tình hình nước ta khi gia nhập WTO phải thực hiện các cam kết về tài chính và có sự kế thừa có chọn lọc những quy định trong chính sách thuế hiện hành.
Luật thuế TNCN ra đời đã đánh dấu sự tiến bộ vượt bậc và tạo bước ngoặt trong lịch sử phát triển hệ thống thuế Việt Nam, nhằm đảm bảo công bằng trong điều tiết thu nhập của các tầng lớp dân cư trong xã hội, đảm bảo động viên một cách hợp lý thu nhập của dân cư, khuyến khích mọi cá nhân ra sức lao động, sản xuất kinh doanh, gia tăng thu nhập làm giàu chính đáng. Thuế TNCN không còn là trách nhiệm chỉ của những người có thu nhập cao, mà về nguyên tắc, mọi cá nhân có thu nhập đều phải thực hiện nghĩa vụ thuế. Thuế TNCN ra đời đã điều hòa thu nhập, thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa người có thu nhập cao và người có thu nhập thấp trong xã hội. Dé hiểu rõ hơn về thuế TNCN, phạm vi bài viết sẽ làm rõ một số van dé về chủ thé nộp thuế TNCN, những thuận lợi và bat cap tu cac quy dinh về nhóm chủ thé này.
Căn cứ xác định chủ thể chịu thuế thu nhập cá nhân Trong lý luận về thuế, chủ thể chịu thuế là cá nhân phải trả tiền thuế cho Nhà nước, theo đó, người chịu thuế nói chung là “người” sử dụng những hàng hóa, dịch vụ có được từ hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc nhập khẩu (đối với thuế gián thu) và những chủ thé có thu nhập chịu thuế (đối với thuế trực thu). Trong thuế gián thu, các tổ chức, cá nhân khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ chịu thuế phải trả tiền thuế cho Nhà nước. Tiên thuế của các sắc thuế gián thu được cầu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ, vì vậy, nghĩa vụ trả tiền thuế của các chủ thể này sẽ cùng lúc với việc họ thanh toán tiền hàng hóa, dịch vụ cho người bán. Đối với các sắc thuế trực thu như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân thì hành vi chịu thuế là hành vi làm phát sinh thu nhập thuộc đối tượng chịu thuế.
Do đó, căn cứ vào các yếu tố lý luận trên, thì chủ thể nộp thuế trong pháp luật về thuế chính là “Người nộp thuế” được quy định trong các sắc thuế; theo đó “Người nộp thuế là các chủ thể có nghĩa vụ kê khai, nộp thuế theo luật định; nếu không thực hiện nghĩa vụ này hoặc thực hiện không đúng sẽ chịu các chế tài pháp luật. 1 Khoa Pháp luật Kinh tế, Đại học Luật Hà Nội Có thé nói, thuế thu nhập cá nhân là loại thuế trực thu đánh vào thu nhập thực nhận của cá nhân trong một năm, từng tháng hoặc từng lần; là nguồn thu quan trọng của ngân sách quốc gia. Do đó, việc thực hiện chính sách này tại các quốc gia có sự khác biệt nhất định về cách tính thuế, chủ thé chịu thuế và nộp thuế, chang hạn như: - Thué TNCN ở Pháp, Hà Lan được áp dụng cho nhóm chủ thé là hộ gia đình, theo đó, nhóm chủ thé nộp thuế này sẽ đảm bao tính công bang xã hội cao hơn nhưng việc quản lý sẽ phức tạp hơn bởi lẽ hộ gia đình phải thực hiện mở số sách ké toán theo dõi nguồn thu nhập của các thành viên trong gia đình. - Thué TNCN áp dụng đối với nhóm chủ thé là cá nhân được áp dụng phô biến tai Nhật, Thụy Dién, các nước châu Phi, Hungary.
Với tiêu chí chủ thé này sẽ có ưu điểm là đơn giản và đảm bảo nguồn thu cho ngân sách nhà nước nhưng có hạn chế là chưa đảm bảo tính công bằng cho các cá nhân có người phụ thuộc như nuôi con, chăm sóc cha mẹ. - _ Thuế TNCN áp dụng với nhóm chủ thé là cá nhân căn cứ theo nơi cư trú — đây là cách thức được nhiều quốc gia áp dụng nhưng mỗi nước lại có những quy định khác nhau về tiêu chí “nơi cư trú”. Hiện nay, nhiều quốc gia xác định cá nhân cư trú là người sống thường xuyên từ 183 ngày trở lên trong một năm tại một nước; tuy nhiên cũng có nhiều quốc gia có quy định cụ thé hon ví dụ như: Ở Pháp xác định một người được coi là cư trú tại Pháp nếu người đó coi Pháp là nơi ở chính, hành nghề chính hay có các trung tâm quyền lợi đặt tại Pháp hoặc thường xuyên có mặt tại Pháp trên 6 tháng trong 1 năm hoặc Pháp là nơi mang lại phan lớn thu nhập?. Ở Nhat quy định về xác định cá nhân cư trú được phân loại cụ thé: (i) Cư tri thường xuyên là người định cư thường xuyên ở Nhật, được đánh thuế đối với mọi nguồn thu nhập nhưng phải thường trú ở Nhật từ 5 năm trở lên; (ii) Cư tru không thường xuyên là người không có ý định cư trú thường xuyên tại Nhật nhưng có thường trú ở Nhật từ 1 — 5 năm, thuế sẽ đánh vào nguồn thu nhập có phát sinh tại Nhat; (iii) Đối tượng không cư trú là người không có nơi định cư hoặc sống ở Nhật dưới một năm phải có hợp đồng lao động hoặc giấy tờ khác chứng minh thì không phải nộp thuế thu nhập.
O Mỹ quy định cá nhân cứ trú là công dân Mỹ và những người sinh sống tối thiểu là 330 ngày đêm. Ở Hàn Quốc xác định: (i) Cá nhân cư trú là người có nhà ở hoặc có thời gian cứ trú tại Hàn Quốc từ 1 năm trở lên. (ii) Đối trong không cư trú là người không có nhà ở tại Hàn Quốc hoặc có thời gian cứ trú tại Hàn Quốc dưới 1 năm. Theo đó, tại Hàn Quốc thì đối tượng cư trú phải chịu thuế thu nhập đối với tất cả các khoản thu nhập nhận được phát sinh ở trong hay ngoài Hàn Quốc; đối tượng không ?Bài viết https://tuoitre.vn/thue-va-nuoc-phap-540592.htm 4 cư trú chỉ phải chịu thuế thu nhập đối với khoản thu nhập nhận được có nguồn gốc từ Hàn Quốc.
- O Việt Nam xác định cá nhân cư trú là người đáp ứng một trong các điều kiện: (i) Có mặt tại Việt Nam từ 183 ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc (11) tính theo 12 tháng liên tục ké từ ngày đầu tiên có mặt tại Viêt Nam hoặc (iii) có nơi ở thường xuyên tại Việt Nam, bao gồm có nơi đăng ký thường trú hoặc có nhà thuê dé ở tại Việt Nam theo hợp đồng thuê có thời hạn. Như vậy, cá nhân không cư trú là người không đáp ứng các điều kiện trên. Như vậy, hiện nay pháp luật Việt Nam cũng đưa ra các tiêu chí chủ thể nộp thuế TNCN trên cơ sở xác định nơi cư trú có sự tương đồng với các quốc gia trên thé giới và cũng đem lại sự thuận lợi cho cơ quan thu thuế trong cách xác định thời gian của một cá nhân cư trú tại Việt Nam nhằm thu được thuế TNCN hiệu quả nhất. Đánh giá quy định của pháp luật Việt Nam về chủ thể nộp thuế thu nhập cá nhân 2.
Quy định về chủ thể chịu thuế TNCN theo pháp luật Việt Nam Ngày 27/12/1990, Chủ tịch nước đã ký lệnh công bố Pháp lệnh Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao (Income Tax on high - Income earner) và đã được ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua. Đề cho phù hợp với tình hình thực tế của từng giai đoạn phát triển kinh té- xã hội của dat nước, từ đó đến nay đã có 05 lần sửa đổi, b6 sung Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao: lần thứ nhất vào ngày 10/3/1992, lần thứ hai vào ngày 1/6/1994, lần thứ ba vào ngày 6/2/1997, lần thứ 4 vào ngày 30/6/1999 và lần thứ năm vào ngày 13/6/2001 (có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2001).