CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VAN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BAO VỆ THUONG DÂN TRONG LUẬT NHÂN DAO QUOC TE Bảo vệ thường dân trong chiến tranh hay xung đột vũ trang là van đề đặc biệt quan trọng, đã, đang và sẽ là van dé trong tâm trong hoạt động điều chỉnh pháp lý của luật quốc tế đương đại. Theo khoa học luật quốc tế, các quan hệ pháp lý liên quốc gia về van dé xung đột vũ trang nói chung là đối tượng điều chỉnh của Luật Nhân đạo quốc tế - một ngành luật độc lập năm trong hệ thống luật quốc tế. Từ góc độ lý luận, ngành luật này bao gồm tổng thể các nguyên tắc, các quy phạm luật quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia trong thời kỳ xung đột vũ trang nhằm mục đích hạn chế sử dụng các phương tiện và biện pháp tàn bạo tiến hành chiến tranh, đồng thời bảo vệ các nạn nhân chiến tranh và quy định trách nhiệm đối với hành vi vi phạm Luật Nhân đạo quốc tế. Dựa trên định nghĩa này, luật nhân đạo được phân thành hai nhánh: - Luật Geneva: đây là bộ quy tắc bảo vệ các nạn nhân của xung đột vũ trang như nhân viên quân sự ở ngoài vòng chiến ' ICRC (2015), International humanitarian law- Answer your questions.
đâu, thường dân không tham gia hoặc không còn tham gia trực tiếp vào chiến sự. - Luật Lahay: đây là bộ quy tắc thiết lập các quyền và nghĩa vụ của các bên tham chiến khi tiễn hành chiến tranh va giới hạn các phương tiện và phương thức tiến hành chiến tranh. Hai nhánh Luật Nhân đạo quốc tế này được đặt theo tên của hai thành phố - nơi những bộ quy tắc (DUQT) đã được xây dựng. Như vậy, van dé bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang thuộc phạm vi điều chính của Luật Geneva (bao gom 4 công ước năm 1949 va 2 nghị định thu năm 1977), cụ thé: - Công ước năm 1949 về cải thiện tình trạng của những người bị thương, bị bệnh thuộc lực lượng vũ trang trên bộ.
- Công ước năm 1949 về cải thiện tình trạng của những người bị thương, bị bệnh và bị đắm tàu thuộc lực lượng vũ trang trên bién. - Công ước năm 1949 vẻ đối xử với tù binh. - Công ước năm 1949 về việc bảo vệ thường dân trong chiến tranh. - Nghị định thư bổ sung số 1 năm 1977 về bảo vệ nạn nhân trong các cuộc xung đột vũ trang có tính chất quốc tế.
- Nghị định thư bổ sung số 2 năm 1977 về bảo vệ nạn nhân của các cuộc xung đột vũ trang không có tính chất quốc tế. Như vậy, van dé bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang là đối tượng điều chỉnh chuyên biệt của Công ước Geneva số 4, đồng thời cũng được điều chỉnh chung trong 2 nghị định thư bổ sung năm 1977, bởi vì thuật ngữ “nạn nhân chiến tranh” không chi có thường dân, ma còn bao gồm các thành phần khác, như thương, bệnh binh, tù binh. Nhóm 10 người này được gọi chung băng thuật ngữ khoa học pháp lý là “Nhóm đối tượng không có khả năng tự vệ trong chiến tranh - defenceless in war”. Đây là một khái niệm rộng, dùng dé chỉ tat cá các đôi tượng dễ bị ton thương nhất hoặc bị rơi vào những hoàn cảnh đặc biệt nguy hiểm trong các cuộc xung đột vũ trang, như thương, bệnh binh thuộc các bên tham chiến, binh sĩ bi dam tàu, nhân viên tôn giáo và đặc biệt quan trọng là thường dân.
Khi đề cập tới vấn đề bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang cần thiết phải tìm hiểu một số van dé lý luận sau: - Nguôn luật quốc tế điều chỉnh van đề bảo vệ thường dân. - Khái niệm thường dân, bảo vệ thường dân trong lý luận luật quốc tế. - Địa vị pháp lý của thường dân trong xung đột vũ trang. - Quan hệ giữa quyền con người và quyền cua thường dân trong xung đột vũ trang.
Điều nhân mạnh là các vấn đề lý luận nêu trên được nghiên cứu và tìm hiểu một cách tông thé, không có sự phân biệt tính chất quốc tế hay phi quốc tế của xung đột vũ trang. NGUON LUẬT QUOC TE DIEU CHINH BAO VE NAN NHAN TRONG XUNG DOT VU TRANG Nguồn luật thứ nhất điều chỉnh những van dé liên quan đến bảo vệ nạn nhân trong xung đột vũ trang trước tiên là các Công ước Geneva và Nghị định thư bồ sung về bảo vệ nạn nhân trong xung đột vũ trang. - Điều ước quốc tế đầu tiên cần dé cập là Công ước Geneva ngày 12 tháng § năm 1949 về cải thiện điều kiện của 1] những người bị thương và bị bệnh thuộc các lực lượng vũ trang trên bộ. Công ước này bao gồm 9 chương, phan Các quy định cuối cùng, 64 điều khoản và 2 phụ lục kèm theo.
Công ước ghi nhận các nguyên tắc, các quy phạm nhằm giảm thiểu tối đa sự tàn khốc, ác liệt của xung đột vũ trang, tăng cường điều kiện đối xử với nhóm người không tự bảo vệ (cụ thê ở đây là thương, bệnh binh, các đơn vị y tế.) ở mức độ cao nhất có thể. Công ước nay còn được gọi là Công ước Geneva (I) 1949. - Điêu ước thứ hai là Công ước Geneva ngày 12 thang 8 năm 1949 về việc cải thiện điều kiện của người bị thương, bị bệnh va bi dam tàu thuộc các lực lượng vũ trang trên biến. Công ước này bao gồm 8 chương, 63 điều khoản va một phụ lục về thẻ căn cước cho nhân viên y tế, tôn giáo.
Công ước ghi nhận các quy định dam bảo tối đa sự trợ giúp đối với các nạn nhân, nhân viên y tế. nhăm dam bảo sự sống của họ. Công ước này được gọi là Công ước Geneva (II) năm 1949. Cả 2 công ước nêu trên có nguồn gốc xuất xứ từ Công ước Geneva về cải thiện tình trạng của người bị thương trong các lực lượng vũ trang trên chiến trường được thông qua năm 1864.
Văn kiện này được sửa đối và phát triển vào các năm 1906 và 1929 và được 2 công ước Geneva năm 1949 kế thừa. - Điều ước thứ ba là Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 về việc đối xử với tù binh. Công ước này bao gồm 6 phân, 143 điều khoản và 5 phụ lục điều chỉnh các quan hệ pháp lý phat sinh từ van đề giam giữ, đối xử, hồi hương của các tù binh. Các điều khoản của Công ước nhằm mục đích bảo vệ đời sông tù binh, cải thiện và nâng cao các điều kiện 12 sống ở mức tối thiểu băng với mức sông của quân đội cầm giữ.
Trong lý luận, Công ước này kế thừa Công ước về đối xử với tù binh năm 1929 và thường được gọi là Công ước Geneva (III) năm 1949. - Điều ước thứ tư là Công ước Geneva ngày 12 tháng 8 năm 1949 vé bảo vệ thường dân trong chiến tranh. Công ước bao gồm 4 phan, 159 điêu khoản và 3 phụ lục. Công ước ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của thường dân trong xung đột vũ trang, quyên và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên tham chiến trong lĩnh vực bảo vệ các thường dân khỏi hậu quả tàn khốc của xung.
đột vũ trang và tạo điều kiện cho họ được hưởng các quyên con người co bản nhất, nếu có thể. Công ước này được gọi là Công ước Geneva (IV) năm 1949. Trong khi 3 công ước Geneva năm 1949 đầu tiên nêu trên được phát triển từ những điều ước quốc tế có sẵn với cùng chủ dé thi Công ước Geneva (IV) năm 1949 là hoàn toàn mới vì đây là điều ước nhân đạo quốc tế đầu tiên đề cập cụ thé đến việc bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang. Mặc dù trước đó, vào năm 1934 Hội nghị quốc tế Chữ thập đỏ lần thứ 15 họp tại Tokyo đã thông qua văn bản của một công ước quốc tế (do ICRC soạn thảo) về bảo vệ thường dân có quốc tịch đối phương trên lãnh thé của một bên tham chiến hoặc do một bên tham chiến đang đóng giữ.
Đã không có gì tiếp theo sau văn ban nay, vì các quốc gia từ chối triệu tập một hội nghị ngoại giao dé quyết định việc thông qua. Kết quả là các quy định trong dự thảo Tokyo đã không được áp dụng trong Chiến tranh thé giới thứ 2. Chỉ sau năm 1945, các quốc gia mới thông qua 4 công ước Geneva đặt nền 13 móng cho Luật Nhân đạo quốc tế, trong đó có Công ước IV về bảo vệ thường dân trong xung đột vũ trang, bởi vì số thường dân bị chết trong Thế chiến II là một trong các nguyên nhân thúc day việc phát triển và thông qua Công ước nay’. - Cùng với những điều ước trên, nguồn của chế định pháp lý quốc tế bảo vệ nạn nhân chiến tranh còn là hai Nghị định thư bố sung được thông qua vào thang 6 năm 1977, ghi nhận các nguyên tắc các quy phạm luật quốc tế điều chỉnh các van dé quan trọng bảo vệ nạn nhân chiến tranh, bao gồm cả thường dân.
Nghị định thư số 1 xử lý van dé này trong xung đột vũ trang quốc tế, còn Nghị định thư số 2 điều chỉnh vẫn đề nêu trên trong xung đột vũ trang không có tính chất quốc tế. Sự ra đời của 2 Nghị định thư này là kết quả của phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa dé quốc thực dân. Trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc đã phát sinh nhu cầu phải có những quy tắc áp dụng cho các cuộc chiến loại này và các cuộc nội chiến mà tần suất xảy ra đã tăng lên đáng ké trong thời kỳ chiến tranh lạnh, bên cạnh đó các quy phạm điều ước quốc tế về việc tiến hành chiến tranh đã không có sự tiễn triển đáng ké nào từ các Công ước Lahay năm 1907 về phương thức, phương tiện tiễn hành chiến tranh. Từ góc độ nghiên cứu đã trình bày, nguồn luật quốc tế điều chỉnh van dé bảo vệ nạn nhân chiến tranh là các điều ước quốc tế đa phương toàn cầu nêu trên trong đó ngu6on chuyên biệt điêu chỉnh van dé bảo vệ thường dân trong xung đột vũ 2 ICRC (2015), International humanitarian law— Answer your questions, page.
14 trang la Công ước Geneva IV năm 1949 và các quy định có liên quan đến van dé này được ghi nhận trong 2 Nghị định thư Geneva năm 1977 về bảo vệ nạn nhân trong xung đột vũ trang. Vì vậy, khi tiếp cận nghiên cứu địa vị pháp lý thường dân, mà trước hết là khái niệm thường dân, bảo vệ thường dân sẽ được phân tích chủ yếu dưới góc độ của điều ước quốc tế và quy định chuyên biệt nêu trên.