CHƯƠNG 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ QUYEN TAC GIA DOI VỚI TÁC PHAM MY THUAT UNG DUNG 1. Khái niệm, đặc điểm quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng 1. Khái niệm quyền tác giả đối với tác phẩm mỹ thuật ứng dụng Thuật ngữ “Mỹ thuật ứng dụng” được bắt nguồn từ thuật ngữ “Design”. Thuật ngữ này vào Việt Nam từ những thập kỷ 70 của thế kỷ XX, được tiếp cận với nền Design của Cộng hòa dân chủ Đức và Liên Xô cũ.
MTƯD là lĩnh vực thuộc phạm vi Nghệ thuật - Kinh tế - Kỹ thuật [30]. MTUD là khái niệm để chỉ các hoạt động sáng tạo mỹ thuật được ứng dụng đưa vào cuộc sống. MTUD không tao ra hình anh, hình tượng, không phản ánh thế giới khách quan, tự nhiên, con người, xã hội, mà sáng tạo ra tác phẩm vật chất cụ thê, cái đẹp bao hàm cái thực dụng. MTUD vừa dé nhìn ngắm thưởng thức cái đẹp bằng cảm thụ thị giác và là vật thé sử dụng, nên nó thuộc loại hình văn hóa nghệ thuật vật thê va phi vật the.
MTUD có ý nghĩa rất quan trọng trong việc góp phan vao sự nghiệp phát triển của đất nước và rất cần thiết dé góp phan trang bị một cách cơ bản, toàn diện cho con người. MTUD có vai trò: Thiết kế kiểu đáng sản phẩm - thúc đây tăng trưởng nền kinh tế hàng hóa - tạo dựng nền văn hóa thâm mỹ và nhận thức xã hội - tạo dựng bản sắc thương hiệu dân tộc. MTUD rất thường gặp và quan trọng trong cuộc sông: cách trình bày một trang báo, kiểu đáng một chiếc áo mới, kiêu dang và cách trang trí mới trên một đồ vật. MTƯD được thê hiện qua tác phẩm.
“Tác phẩm mỹ thuật là tác phẩm được thê hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục, bao gồm: Hội họa, đồ họa, điêu khắc, nghệ thuật sắp đặt và các hình thức nghệ thuật đương đại khác” [12]. Hiện nay, sự bùng nỗ của thương mại điện tử, sự cạnh tranh 12 khốc liệt giữa các thương hiệu, tư duy về cái đẹp đã trở lên thực tế hơn đã tạo thành đòn bây đưa MTUD trở thành hoạt động thương mại có sức cạnh tranh nổi bật. Nó trở thành “nghệ thuật áp dụng sản xuất công nghiệp để cho ra những tác phẩm mỹ thuật phục vụ đời sống”, đó là “những tắm tranh, phù điêu, đường điềm,. trang trí cho một công trình hoặc ứng dụng cho môt công việc cụ thé nào đó”[36] dé tạo ra sản phẩm mang tính thâm mỹ.
Tác phẩm mỹ thuật rất đa dang và phong phú trong đó “Tác phẩm MTUD là tác phẩm được thé hiện bởi đường nét, màu sắc, hình khối, bố cục với tính năng hữu ích, có thể gắn liền với một d6 vật hữu ích, được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp như: Thiết kế đồ họa (hình thức thé hiện của biểu trưng, hệ thống nhận diện và bao bì sản phẩm), thiết kế thời trang, tạo dáng sản phẩm, thiết kế nội thất, trang trí” [12] được sản xuất thủ công hoặc công nghiệp dé trở thành một sản phẩm tiêu dùng hoặc thương mại. Là một đối tượng của SHTT, tác phẩm MTUD là một trong những đối tượng được bảo hộ QTG theo quy định của pháp luật SHTT. Người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm MTUD được gọi là tác giả: “Tác giả là người trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác phẩm. Đồng tác giả là những tác giả cùng trực tiếp sáng tạo ra một phần hoặc toàn bộ tác pham.
Người hỗ trợ, góp ý kiến hoặc cung cấp tư liệu cho người khác sáng tạo ra tác phẩm không được công nhận là tác giả hoặc đồng tác giả” [12]. Như vậy, MTUD va tác phẩm MTUD thé hiện sự giao thoa giữa tính nghệ thuật và sự tiện ich ma nó mang đến cho con nguoi. Day là hai khái niệm khác nhau nhưng có mối liên hệ mật thiết với nhau ở nhiều phương diện đặc thù. Trong đó, MTUD là thuật ngữ dé chỉ các sản phẩm có tính thẩm mỹ va có công năng áp dụng vào thực tiễn; còn tác phẩm MTUD là “một tác phẩm nghệ thuật là các đối tượng dé sử dụng vào thực té, cho dù là được thé hiện dưới dang thủ công my nghệ hay các sản pham được sản xuất ở quy mô công nghiệp” [91].
13 Đặc điểm nhận diện của tác phẩm mỹ thuật ứng dụng Thứ nhất, tac phim MTUD gắn liền với một vật hữu ích. Đây là yếu tố quan trọng dé xác định đây có phải là một tác phẩm MTUD hay không. Vật hữu ích được hiểu là một đối tượng có chức năng sử dụng, phục vụ nhu cầu sinh hoạt của con người. Ví dụ là quần áo, đồ nội thất,.
Thứ hai, tác phim MTUD phải thé hiện được sự sáng tạo nổi bật của tác giả. Nó là kết quả lao động trí óc của tác giả trong lĩnh vực nghệ thuật nhằm tao ra những sản phẩm thỏa mãn nhu cầu thâm mỹ, hướng tới cái đẹp của con người. Thứ ba, tác pham MTUD được thê hiện dưới một hình thức vật chat nhất định: Tác phim MTUD phải được thể hiện bằng hình khối, đường nét, màu sắc, gan liền hoặc thé hiện trên các đồ vật hữu ich. Tác phẩm MTUD chủ yếu được thé hiện qua yếu tô hình ảnh, đồ họa hoặc điêu khắc, có thé được thé hiện trên bất kỳ chất liệu, vật liệu nào gắn liền với các sản phẩm Thứ tu, mục đích của tác phẩm MTUD là tinh ứng dụng.
MTUD gắn với thực tế đời song, tac phẩm được sáng tác phục vụ cho nhu cầu của đời sống. Các sản phẩm nếu được coi là MTƯD thường mang lại giá trị kinh tế cao do nó đáp ứng được cả hai yếu t6 là thâm mỹ và tiện ích. Đây đều là những yêu cau thị hiéu mà người tiêu dùng hướng đến, đặc biệt là trong thời đại mà chất lượng cuộc sống được tăng cao thì yêu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phâm ngày càng khắt khe hơn. Thứ năm, tính phố biến của tác phim MTUD.
Bản sao của các tác phẩm MTUD thường được sản xuất với số lượng lớn nhằm đáp ứng cung - cầu của thị trường và của người tiêu dùng. Các tac phim MTUD có thé được sản xuất dưới dạng thủ công hoặc công nghiệp. Thuật ngữ “quyền tác giả” trong tiếng Anh sử dụng từ “copyright” (có nghĩa là quyền sao chép); tiếng Pháp là “droit d'auteur” (có nghĩa là QTG) và 14 tiếng Đức là “Urheberrecht” (có nghĩa là bản quyền). Sở dĩ có cách sử dụng thuật ngữ khác nhau như vậy, vì trên thế giới hiện nay tồn tại những cách tiếp cận khác nhau đối với khái niệm QTG nói chung và QTG đối với tác phẩm MTUD nói riêng cũng như đối với chủ thé được bảo hộ QTG [21, tr.
Xuất phát từ Lý thuyết về quyền sở hữu của NXB được khởi xướng ở Anh vào năm 1556 với tên gọi “owner of copyright”, các nước theo hệ thống pháp luật Anh - Mỹ (án lệ) sử dụng thuật ngữ “copyright” dé chỉ QTG. “Copyright” theo nghĩa đen là quyền sao chép. Lúc đầu, thuật ngữ này dùng dé chỉ độc quyền sao chép nhân bản tác phẩm, sau đó, nó ngày càng được sử dụng phổ biến ở Anh, Mỹ và những quốc gia sử dụng tiếng Anh theo nghĩa rộng hơn dé chỉ QTG (hay được dịch là “bản quyền”) để chỉ các quyền đối với sản phâm sáng tạo đưới dang tác phẩm [52, tr. Hệ thống pháp luật Anh — Mỹ (án lệ) sử dụng thuật ngữ “bản quyền” dé chỉ các quyền đối với sản phẩm sáng tạo dưới dang tác phẩm [52, tr.37] và ghi nhận và bảo hộ các quyền kinh tế cho tác giả, chủ sở hữu QTG, ghi nhận sự độc quyền sao chép của chủ sở hữu QTG.
Với cách tiếp cận này, trước hết nhà làm luật đứng về phía bên đầu tư về kinh tế để bảo vệ các quyền lợi kinh tế (mà trọng tâm là quyền sao chép tác phẩm) của người sở hữu QTG (copyright owner) đối với tác phẩm hơn là chính tác giả, nhằm bảo đảm quyền khai thác giá trị kinh tế của tác phâm cho người sở hữu bản quyền. Các quốc gia theo hệ thống châu Âu lục địa (luật thành văn) như Pháp, Đức hoặc một số quốc gia châu Âu khác sử dụng thuật ngữ “author’s right” (QTG) dé chi các quyền đối với tác phẩm — sản phẩm sáng tao trí tuệ. Hệ thống này coi tác giả là trung tâm của hệ thống bảo hộ và dồn trọng tâm bảo vệ vào quyền của người sáng tạo tác phâm với việc khang định người sáng tao có các quyền đối với tác phẩm, đặc biệt là các quyền tinh than (moral rights) của tác gia được chú trọng và đặc biệt bảo vệ. Cách tiêp cận của các nước 15 theo hệ thống này xuất phát từ quan niệm, trí tuệ thuộc về nhân loại nên pháp luật chủ yếu ghi nhận các quyên tinh thần (cách gọi khác là quyền nhân thân) của tác giả đối với tác pham và từ quyền nhân thân đó sẽ ghi nhận va bảo hộ một số quyền tài sản cho tác giả [21, tr.
Như vậy, dù theo cách tiếp cận nảo thì các quốc gia trên thế giới đều thống nhất một điểm chung, đó là QTG là phạm vi các quyền (bao gồm cả quyền nhân thân và quyền tài sản) của chủ thê (bao gồm tác giả và chủ sở hữu QTG) đối với tác phẩm của họ được pháp luật ghi nhận và bảo hộ. Ở Việt Nam, khái niệm QTG cũng đã được biết đến từ trước năm 1945, QTG được coi trọng và là động lực thúc đây việc tạo ra những tác phẩm có giá trị phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp bảo vệ Tổ Quốc và xây dựng đất nước ngày cảng phát triển trên mọi lĩnh vực. Trong đó QTG được hiểu là quyền nhân thân và quyền tài sản đối với một tác phẩm của tác giả mà tác phẩm đó là kết quả của hoạt động sáng tạo của tác giả. Xét dưới góc độ tác phẩm MTUD thì QTG đối với tac phim MTUD cũng được hiểu là quyền nhân thân và quyền tai sản đối với một tác phẩm MTUD của tác giả mà tác phẩm MTUD đó là kết quả của hoạt động sáng tạo của chính mình, như: quyền sao chép tác phẩm và quyền phân phối hoặc phổ biến các tác phẩm đến công chúng bằng bất kỳ phương tiện nào và cũng còn được hiểu là quyền về việc cho phép người khác sử dụng các tác phẩm theo những cách thức cụ thé.
Có những trường hợp tác giả không đồng thời là chủ sở hữu quyên tác giả thì chỉ có các quyền nhân thân không gắn với tài sản.