CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VE CÁC PHƯƠNG THỨC BAO VỆ QUYỀN SỞ HỮU 1. Quyền sở hữu và bảo vệ quyền sở hữu 1. Khái niệm quyên sở hitu Quyên sở hữu là van dé có ý nghĩ vô cùng quan trọng trong đời sông kinh tế, xã hôi cũng như trong pháp luật của các quốc gia trên thé giới. Chính vi vây, có rất nhiều quan điểm được nêu ra cho khái niệm nay: Trong khoa hoc kinh té, sở hữu được tiếp cận dưới giác đô của một phạm trù kinh tế - chính trị có nội ham 1a môi quan hệ giữa người với người trong tô chức sản xuất xã hội.
Trong khi đỏ các triết gia coi sở hữu như mét mặt quan trong của quan hệ sản xuất, gan liên với một hình thái kinh té - xã hội nhật định. Tuy nhiên, trong khoa học luật, sở hữu được tiếp cận thông qua quan hệ pháp lý về tài sản. Pham tra sở hữu khi được luật hóa sẽ trở thành quyền sé hữu, đến lượt minh - quyền sở hữu được thực hiện thông qua một cơ chế được hiện thực hóa trong zã hội thì tro thành chế độ sở hữu!. Có thé nói sở hữu được coi là việc chiếm giữ những của cải vật chất của con người trong đời sông xã hội Như vậy, sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yêu tô khách quan, xuất hiện cùng với sư tôn tại của xã hội loài người.
Quá trình tôn tại của xã hội loài người luôn gắn liên với sự phân hóa tài sản trong việc chiêm giữ những của cải vật chất. Ngay từ những ngày sơ khai, những người nguyên thủy đã có ý niệm đâu tiên về sở hữu đôi với các thành quả lao đông của mình có được từ việc săn bắn, hái lượm phục vụ cho các nhu cầu sinh hoạt hằng ngày. Cùng với sự pháp triển cấp tiên của xã hội, của cải vật chat được làm ra ngày một du thừa, khiến các quan hệ xã hội dẫn hình thành giữa cá thể cùng sinh sông trong một công đồng như quan hệ mua ban hang hóa. Môi quan hệ giữa người với người trong qua trình chiêm hữu va sẵn xuất ra của cải vật chat chính la quan hệ sở hữu.
Sự xuất hiện của quan hệ sở hữu cũng đông thời dẫn đến hé quả la việc phân chia giai "Tum bio: Lương Minh Cứ Vũ Vin ‘Thr, Sở hữu tr nhânvà khủytế tr nhận ở Việt Nam hiện nay: mit số nhận thức về lý huin và thục tiến, Nob. Chính trị Quốc gia, Ha Nội, 2011,tr. 119-120 7 cấp trong xã hội. Khi quan hệ sở hữu tôn tại như một yếu tô khách quan va xuât hiện chế độ tư hữu thì những người giàu có và quyên thé thay rằng chỉ điêu hành xã hội bằng phong tục tập quan sẽ không có lợi cho minh nên cân phải có một bộ máy bạo lực với pháp luật là công cụ dé bao vê sự chiếm hữu của cai vật chat cho minh và cho giai cấp mình.
Trên cơ sở kinh tế để bảo đâm cho sự thong trị về chính trị và tư tưởng chính lả các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thong trị. Giai cấp thông trị phải dùng tới một bô phận của pháp luật về sở hữu dé thé hiện ý chí của giai cấp minh. Là một hình thai của thương tang kiến trúc, pháp luật về sở hữu ghi nhận và cũng cé địa vị, ghi nhận lợi ich của giai cấp thông trị đôi với việc đoạt giữ các của cải vat chat trước các giai cap khác trong quá trình sản xuất, phân phôi, lưu thông. Do đó, trong bat ky nhà nước nao, luật pháp về sở hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một công cụ có hiệu quả của giai cap năm chính quyền dé bảo vệ cơ sỡ kinh tế của giai cap đó Trong khoa học pháp lý, quyên sở hữu được hiểu là mét phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hop các quy phạm pháp luật về sở hữu nhằm điều chỉnh các quan hé sở hữu trong đời sông xã hội.
Các quy pham pháp luật vẻ sở hữu là cơ sở để xác nhận, quy đính và bảo vệ các quyển lợi của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng vả định đoạt tài sản Quyên sở hữu với tư cách là một chế định của pháp luật dân sự, một bộ phân thuộc thương tầng kiến trúc, quyên sở hữu chỉ xuất hiện khi xã hôi đã có sự phân chia giai cấp va có Nha nước. Pháp luật về sở hữu chính la sản phẩm của xã hội có giai cấp nhằm bảo vệ loi ích trước hết là của giai cấp thông trị, giai cấp nắm quyên lãnh đạo trong xã hội. Pháp luật vé sở hữu dù được ghi nhận và quy định dưới bat kỷ góc độ nao cũng luôn mang tính giai cấp và phản ánh những phương thức chiếm giữ của cải vật chat trong xã hội. Vi vậy, pháp luật về sở hữu bao giờ cũng nhằm mục dich: xác nhận va bảo vệ bằng pháp luật việc chiêm giữ những tư liêu sản xuất chủ yêu của giai cap thống trị, bảo vệ những quan hé sở hữu phủ hợp với lợi ích của giai cấp thông tri; tạo điều kiện pháp lý cân thiết bảo dam cho giai cấp thông 8 trị khai thác được nhiều nhật những tư liệu sin xuất đang chiếm hữu để phục vụ cho sự thông trị, đông thời xác định mức đô xử sự vả các ranh giới hạn chế cho các chủ sở hữu trong phạm vi các quyền nang chiếm hữu, sử dung, định đoạt Như vậy, với cách hiểu nảy khái niệm quyền sở hữu có thể hiểu theo hai nghia sau Thu nhất, theo nghĩa khách quan (còn được goi la nghĩa rông), quyên sở hữu 1a luật pháp về sở hữu trong môt hé thông pháp luật nhất định.
Vi vậy, quyền sở hữu là tông hợp một hệ thông các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành dé điêu chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liêu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những của cải vật chất trong đời sông xã hôi Thut hai, theo nghĩa chủ quan (còn được goi 1a nghĩa hep), quyên sở hữu là mức độ xử su ma pháp luật cho phép một chủ thé được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định Với cách hiểu nay thi quyên sở hữu chính lả những quyên năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đôi với một tai sản cụ thé, được quy định trong các quy phạm pháp luật về sở hữu cụ thể. Ngoài ra, dưới góc độ luật dan sự, quyên sở hữu được hiểu la một quan hệ pháp luật dân sự — quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Bởi, bản thân nó chính là hệ qua của sự tác động của mét bộ phận pháp luật vào các quan hệ xã hội (các quan hệ sở hữu). Như vay, theo cách hiểu nảy quyên sở hữu bao gồm đây đủ ba yêu to của quan hé pháp luật dan sư: chủ thể, khách thé vả nội dung như một quan hệ pháp luật dân sư bat ky? ` Giáo trinh Luật Din sự Việt Nam (2023).
Tập 1 /Trường Đại học Luật Hi Nội; Chỗ biển: Phạm Vin Tuyết, Trân Thi Huệ ; Trần Ngọc Hiệp. Đặc trưng cơ bản của quyén sở hitu Thit nhất, quyền sở hữu đem lai cho chủ sở hữu quyên lợi cao nhất trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản theo ý chí của mình Trong khi quyên chiêm hữu cho phép chủ sé hữu trong việc nằm giữ, chi phối tai sản thuộc quyền sở hữu của mình, thì quyền sử dụng cho phép chủ sở hữu khai thác các công dụng, hưởng hoa và lợi tức cỏ được từ tài sản một cách trọn vẹn và quyển dinh doat cho phép chủ sở hữu toản quyên quyết đính số phận pháp lý cũng như sô phân của tai sản trên thực té. Trừ trường hợp do pháp luật quy định nhằm bão vệ quyên, loi ích công công vả trong chừng mực không trái với pháp luật, đạo đức xã hôi, không một tô chức hay cả nhân nao có quyền hạn chế, can thiệt hay cân trở chủ sở hữu thực hiện các quyền năng của mình. Thit hai, chủ sở hữu thực hiện các quyên năng chiếm hữu, sử dung va định đoạt tai sản của minh vi lợi ích của chính bạn thân ho.
Các chủ thé không phải là chủ sở hữu khi thực hiện các công việc được ủy quyền hay theo các hợp đồng dân sự (gửi giữ, thuê tai sản.) thường là vì lợi ich của chủ sở hữu. Thit ba, quyên sở hữu buộc các chủ thé khác phải tôn trong quyên của chủ sở hữu, không được xâm phạm hay can trở việc thực hiên quyên của chủ sở hữu. Quyên sở hữu được Nhà nước bảo vệ rất chặt chế, điêu này được thể hiện qua Hiến Pháp va được cụ thé hóa ở các Luât chuyên ngành: Luật dân sự, Luật đất đai, Luật nha ở. Nội dung quyên sở hitn Dưới góc dé la quan hệ pháp luật dân sự, quyền sở hữu bao gồm ba yếu tố câu thanh sau: 113.
Quyền chiếm hữu Quyên chiêm hữu được hiểu theo một cách đơn giản thông thường nhất thì đây được xem là sư nằm giữ, quan ly cũng như chi phôi đối với một hay 10 nhiều tai sản của một hoặc nhiêu chủ thé. Ví dụ: cá nhân nào đó thực hiện việc cất giữ đối với sô tiên của ho trong tủ hay trong két sắt của nha minh. Dựa vào ba tiêu chí khác nhau thì quyên chiếm hữu sé có cách phân loại khác nhau, cu thể Thứ nhất, dựa vào tính ngay tinh của việc chiếm hữu, quyên chiếm hữu được chia ra lam hai loại: Loại thứ nhất là chiếm hữu không ngay tinh thì được xác định đó là trưởng hop người chiếm hữu đã biết hoặc pháp luật buộc ho phai biết la mình đang chiếm hữu tai sản của chủ thé khác nhưng không dua trên cơ sở pháp luật. Loại thứ hai là chiém hữu ngay tinh la ap dung đôi với các trường hợp mà người chiến hữu không biết và họ không thể bằng cách nào đó mà biết mình chiêm hữu không dựa trên cơ sỡ pháp luật Cu thể đối với những trường hop đòi hdi người chiếm hữu biết hoặc phải biết về việc chiếm hữu của mình đang thực hiện đó là hành vi không ngay tinh thì thường liên quan đền các loại tải sản cỏ đăng ký quyên sở hữu như bắt động san, đông sản mà pháp luật yêu câu phải đăng ký quyền sở hữu.