Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VẺ BẢO VỆ QUYÊN RIENG TU TRONG MÔI TRƯỜNG INTERNET 1.1 Khái niệm quyền riêng tư Đưa ra một định nghĩa thống nhất về QRT là cơ sở đề phân tích, lập luận và đảm bảo tính thống nhất cho việc nghiên cứu về quyền pháp lý này. Trong tất cả các quyền con người, có lẽ QRT là khó định nghĩa nhất. Các định nghĩa về QRT rất khác nhau tùy thuộc vào điều kiện của từng quốc gia và nền văn hóa. Ở nhiều nước, khái niệm này đã được hợp nhất với khái niệm bảo vệ dữ liệu cá nhân, trong đó sự riêng tư chính là việc quản lý TTCN.
QRT được ghi nhận trong các văn bản pháp luật quốc tế như hiến chương về quyền con người, công ước Liên hợp quốc về quyền dân sự chính trị do đó QRT phải là một trong nhiều QCN. Hơn nữa QRT là đại diện cho giá trị của con người, thể hiện nhu cầu tự nhiên của con người trong môi quan hệ với xã hội do đó QRT là một trong những quyền con người được pháp luật quốc tế ghi nhận. QRT cũng là quyền hiến định vì được quy định trong hiến pháp. QRT được ghi nhận trong chương về QCD đo đó có thể hiểu đó là một trong những quyền cơ bản của công dân.
QRT là một trong những quyền cơ bản của con người, có lịch sử nhận thức dài như nhân loại. Đặc biệt, thể hiện từ thế kỷ ánh sáng của thời kỳ Phục hưng tư sản, nhưng được chính thức ghi nhận lần đầu tiên trong Tuyên ngôn quốc tế về Nhân quyền năm 1948 (UDHR). Điều 12 Tuyên ngôn ghi nhận: “Không ai phải chịu sự can thiệp một cách tùy tiện vào cuộc sống riêng tư, gia đình, nhà ở hoặc thư tín cũng như bị xúc phạm về nhân phẩm hoặc uy tín của cá nhân. Mọi người đều được pháp luật bảo vệ chống lại sự xúc phạm và can thiệp như vậy”.
[54 Quy định nêu trên sau đó được tái khăng định trong Điều 17 Công ước quốc tế về các quyền Dân sự và chính trị (ICCPR), trong đó nêu rằng: “(1) 12 Không ai bị can thiệp một cách độc đoán và bất hợp pháp đến đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở, thư tín; hoặc bị xúc phạm một cách bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. (2) Mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại mọi sự can thiệp và xúc phạm như vậy”. [39] Pháp luật của nước ta từ khi lập quốc năm 1945 luôn khăng định một nguyên tắc nhất quán là bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp 1946 [14], ghi nhận tại điều 10 và điều II quyền tự do đi lại, và quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và thư tín.
Tuy nhiên lại chưa có quy định trực tiếp về QRT. Hiến pháp 1959 [15], điều 27, 28 quy định quyền bất khả xâm phạm về thân thể và bất khả xâm phạm về nhà ở và thư tín. Hiến pháp 1980 [16], ghi nhận tại các điều 69, 70, 71 các quyền công dân như quyền bất khả xâm phạm về thân thê, bảo vệ danh dự nhân phẩm, bất khả xâm phạm về chỗ ở, bí mật thư tín điện thoại điện tín. Hiến pháp 1992 [17], Điều 73 quy định về quyền bất khả xâm phạm về thư tín và chỗ ở nhưng đã bổ sung thêm quy định về việc khám xét, thu giữ thư tín phải tuân thủ quy định của pháp luật Hiến pháp 2013[18], thể theo tinh thần của nghị quyết 49 về cải cách tư pháp, các quyền con người, quyền công dân được ghi nhận rất đầy đủ và lần đầu tiên QRT đã được quy định.
Điều 21 quy định: 1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn. Mọi người có quyền bí mật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác.
13 Không ai được bóc mở, kiểm soát, thu giữ trái luật thư tín, điện thoại, điện tín và các hình thức trao đôi thong tin riéng tu cua người khác. Như vậy, mặc dù có khác biệt về mặt từ ngữ, nhưng có thể khăng định rằng Hiến pháp 2013 đã thể chế hoá QRT như là một QCN, QCD. Quy định này là một điểm mới so với các bản Hiến pháp trước đây. Trên cơ sở tiếp thu những quan điểm đóng góp của xã hội và giới chuyên gia, trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm của các nước tiên tiến, Quốc hội đã thông qua Bộ luật dân sự 2015 với nhiều đổi mới trong đó có sửa đổi về quyền bí mật đời tư.
Sửa đổi đầu tiên của Bộ luật dân sự 2015 [4] là về mặt thuật ngữ, tên điều luật, tên gọi của quyền nhân thân đã được thay đổi chuyên từ “quyền bí mật đời tư” sang “Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình” như vậy nội dung của quyền đời sống riêng tư theo pháp luật Việt Nam gồm 3 nhóm thông tin chính là thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình Cấu trúc của điều luật bao gồm 4 khoản. Khoản 1 quy định về nguyên tắc chung trong bảo vệ thông tin riêng tư, coi thông tin riêng tư là bất khả xâm phạm, Khoản 2 quy định về phương thức, cách thức hợp pháp để tiếp cận, khai thác, quản lý đối với những thông tin thuộc về đời sống riêng tư. Khoản 3 đề cập tới thông tin riêng tư được lưu trữ dưới các định dạng số hoá và truyền thông (quy định trên được nêu ra nhằm phù hợp với điều kiện xã hội đương thời khi công nghệ thông tin phát triển đe dọa tới đời sống cá nhân). Cuối cùng, khoản 4 quy định về QRT trong giao dịch dân sự giữa các bên trong giao dịch.
Cụ thể, Điều 38 BLDS 2015 quy định về quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình như sau: 1. Đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình là bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ. Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến bí mật gia đình phải được các thành viên gia đình đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác. Thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đổi thông tin riêng tư khác của cá nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc bóc mở, kiểm soát, thu giữ thư tín, điện thoại, điện tín, cơ sở dữ liệu điện tử và các hình thức trao đôi thông tin riêng tư khác của người khác chỉ được thực hiện trong trường hợp luật quy định. Các bên trong hợp đồng không được tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình của nhau mà mình đã biết được trong quá trình xác lập, thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.” Căn cứ theo quy định của pháp luật Việt Nam, Quyên bí mật đời tư của Việt Nam trước đây và quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình hiện nay có sự khác biệt nhất định so với QRT theo quan niệm của một số Quốc gia trên thế giới. Quyền đối với đời sống riêng tư theo pháp luật Việt Nam tập trung vào bảo vệ các thông tin riêng tư của cá nhân, hơn thế nữa quyền bí mật đời tư của cá nhân thiên về được xây dựng theo xu hướng phòng ngừa, ngăn chặn sự xâm nhập, kiểm soát khai thác của bên thứ ba đối với thông tin riêng tư, thông tin cá nhân. Theo quan niệm của quốc tế, thông tin cá nhân chỉ là một nội dung của QRT ngoài ra còn sự riêng tư đối với thân thể, hình ảnh, nơi ở và công việc cá nhân.
Hơn nữa, QRT theo quan niệm của quốc tế không chỉ đơn thuần là sự ngăn chặn mà hơn thế đó phải là quyền của cá nhân trong việc tự do thực hiện các hoạt động, công việc của cá nhân mà không bị bất kỳ sự can thiệp, tác động từ bên ngoài. 15 Hiện nay, sé lượng các công trình nghiên cứu về QRT tại nước ta chưa nhiều, tuy nhiên vẫn có một số tác giả quan tâm nghiên cứu và đưa ra định nghĩa về quyền riêng tư: TS. Lê Đình Nghị (Đại học luật Hà Nộ!) trong luận án tiễn sĩ về quyền bí mật đời tư, ông cho rằng “QRT được hiểu là quyền được sống như mong muốn của mỗi cá nhân mà không chịu ảnh hưởng bởi bắt kỳ chủ thể nào khác. Cá nhân có thể sinh hoạt theo sở thích trong một môi trường và không gian của riêng mình, tự do lựa chọn cách sống, cách sinh hoạt, ăn mặc.
Như vậy theo định nghĩa mà TS Lê Đình Nghị đưa ra thì bản chất của QRT chính là sự tự đo cá nhân, quyền của cá nhân trong việc sinh hoạt theo mong muốn mà không gặp phải sự cản trở, hạn chế nào. Thái Thị Tuyết Dung (Đại học luật thành phố Hồ Chí Minh) thì cho rằng: “QRT là quyền của cá nhân được phép giữ kín những thông tin, tư liệu, dữ liệu gắn liền với cuộc sống riêng tư của mình, quyền bất khả xâm phạm về thân thê, về nơi ở, về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác mà không một chủ thể nào có quyền tiếp cận, công khai trừ trường hợp được chính người này hoặc bằng quyền định của cơ quan nhà nước có thâm quyền” [38]. Quan điểm của Tiến sĩ Thái Thị Tuyết Dung có nêu ra được những nội dung của Quyền riêng tư, phù hợp với nhận thức về QRT trên bình diện quốc tế, tuy nhiên định nghĩa mà bà đưa ra chỉ mới là sự liệt kê các quyền năng gần gũi với đời sống riêng tư mà chưa có sự liên kết các quyền năng này qua đó nêu được bản chất của QRT. Như vậy qua các phân tích trên, có thê thấy rằng từ trước đến nay đã có nhiều học giả cố gắng đưa ra được một định nghĩa thống nhất về QRT nhưng chưa thực sự nêu bật được đúng bản chất của quyền này.
Tuy nhiên, những quan điểm trên đều ghi nhận những đặc trưng của QRT. 16 Chúng ta có thể định nghĩa về QRT như sau: “QRT là quyền bất khả xâm phạm của cá nhân đối với: thân thể, thông tin cá nhân, bí mật cá nhân, hình anh, thư tín, công việc cá nhân.