Chương 1. Khái quát chung về pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử ở Việt Nam Chương 2. Thực trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử Chương 3. Định hướng, giải pháp hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thương mại điện tử ở Việt Nam 5 Chƣơng 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG TRONG HOẠT ĐỘNG THƢƠNG MẠI ĐIỆN TỬ Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về thƣơng mại điện tử và bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng trong hoạt động thƣơng mại điện tử 1. Thương mại điện tử 1. Khái niệm Thương mại điện tử là cụm từ được dịch ra từ cụm từ tiếng Anh là “electronic commerce”, đó là sự kết hợp giữa hai yếu tố là “thương mại” và “điện tử”.
Khái quát qua có thể thấy, thương mại điện tử được hiểu là một lĩnh vực mà các hoạt động thương mại được diễn ra và có sự hỗ trợ của các công cụ và phương tiện điện tử. Theo Tổ chức Thương mại thế giới (WTO): “Thương mại điện tử bao gồm việc sản xuất, quảng bá, bán hàng và phân phối sản phẩm được mua bán và thanh toán trên mạng internet, nhưng được giao nhận một cách hữu hình, cả các sản phẩm giao nhận cũng như những thông tin số hóa thông qua mạng internet”[24]. Với định nghĩa này của tổ chức WTO đưa ra ta có thể hiểu thương mại điện tử qua nghĩa hẹp hơn, gồm các hoạt động sản xuất, mua bán, trao đổi và thanh toán sản phẩm dựa vào mạng internet. Theo Ủy ban Thương mại điện tử của Tổ chức Hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) định nghĩa như sau: “Thương mại điện tử liên quan đến các giao dịch thương mại trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các nhóm (cá nhân) mang tính điện tử chủ yếu thông qua các hệ thống có nền tảng dựa trên internet”[15].
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) đưa ra định nghĩa: “Thương mại điện tử là việc bán hoặc mua hàng hóa, dịch vụ giữa thương nhân, hộ gia đình, cá nhân, chính phủ, các tổ chức công cộng hoặc tổ chức tư nhân, được thực hiện thông qua mạng máy tính. Hàng hóa, dịch vụ được đặt hàng trên mạng nhưng việc thanh toán và giao hàng có thể được thực hiện trên mạng hoặc được thực hiện trực tiếp”[20]. Từ định nghĩa do OECD đưa ra ta có thể thấy được hoạt động thương mại điện tử là việc thực hiện giao dịch giữa người bán với người mua, giữa người bán với chính phủ hoặc các tổ chức công cộng, tổ chức tư nhân nhưng nhìn chung các hoạt động giao dịch đó đều được thực hiện chủ yếu dựa vào mạng internet chứ không còn là các giao dịch truyền thống được thể hiện trên các văn bản thông thường. Theo Ủy ban châu Âu (EC): “Thương mại điện tử có thể định nghĩa chung là sự mua bán, trao đổi hàng hóa hay dịch vụ giữa các doanh nghiệp, gia đình, cá nhân, tổ chức tư nhân bằng các giao dịch điện tử thông qua mạng internet hay các mạng máy tính trung gian (thông tin liên lạc trực tuyến).
Thuật ngữ bao gồm việc đặt hàng và giao dịch thông qua mạng máy tính, nhưng thanh toán và quá trình vận chuyển hàng 6 hay dịch vụ cuối cùng có thể thực hiện trực tuyến hoặc bằng phương pháp thủ công”[22]. Trong hoạt động thương mại điện tử diễn ra nhiều hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ thông qua các phương tiện điện tử. Ngoài các hoạt động thương mại hàng hóa thì thương mại điện tử còn bao gồm cả những hoạt động truyền thống, các siêu thị xuất hiện trên internet. Các hoạt động thương mại điện tử diễn ra được dựa trên việc xử lý và truyền tải dữ liệu dưới dạng chữ viết, âm thanh và hình ảnh.
Trong pháp luật Việt Nam theo Nghị định 52/2013/NĐ-CP của Chính phủ ban hành đưa ra định nghĩa về thương mại điện tử như sau: “Hoạt động thương mại điện tử là việc tiến hành một phần hoặc toàn bộ quy trình của hoạt động thương mại điện tử bằng phương tiện điện tử có kết nối với mạng internet, mạng viễn thông di động hoặc các mạng mở khác”1. Có thể nhận thấy khái niệm về hoạt động thương mại điện tử mà pháp luật Việt Nam đưa ra có nhiều nét tương đồng giống với những khái niệm của các tổ chức thế giới, là hoạt động mua bán, trao đổi bằng các phương tiện điện tử có kết nối internet. Như vậy, pháp luật Việt Nam không quy định bó buộc vào mạng internet mà quy định rộng hơn là việc tham gia hoạt động thương mại điện tử bằng các phương tiện điện tử mà nó đã được quy định tại Luật Giao dịch điện tử 2023: “Phương tiện điện tử là phần cứng, phần mềm, hệ thống thông tin hoặc phương tiện khác hoạt động dựa trên công nghệ thông tin, công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ khác tương tự”2. Xã hội ngày càng phát triển, đời sống thu nhập của người dân ngày càng cao dẫn đến nhu cầu mua sắm của họ ngày càng lớn.
Để đáp ứng điều này, các doanh nghiệp đã chú trọng đầu tư vào kinh doanh trên mạng internet hoặc thông qua các kênh thông tin để quảng bá sản phẩm tới người tiêu dùng, tất cả đều thông qua các phương tiện điện tử. Như vậy, pháp luật Việt Nam không bó hẹp hoạt động thương mại điện tử mà định nghĩa nó một cách rộng hơn là các giao dịch điện tử thông qua truyền hình, điện thoại hay mạng internet. Với phạm vi điều chỉnh mà pháp luật Việt Nam quy định như vậy là phù hợp với tình hình nước ta hiện nay, khi các phương tiện điện tử ngày càng xuất hiện phổ biến như điện thoại, máy tính, tivi,… đều có kết nối internet và hầu hết mọi hoạt động của người dân đều hướng đến mục đích là phục vụ nhu cầu của bản thân. Đặc điểm Hoạt động thương mại điện tử và hoạt động thương mại truyền thống đều có những điểm tương đồng nhất định.
Nhưng nhìn chung hoạt động thương mại điện tử chỉ diễn ra được thông qua các thiết bị điện tử có kết nối internet, chính vì vậy, hoạt 1 Khoản 1, Điều 3 Nghị định 52/2013/NĐ-CP về Thương mại điện tử 2 Khoản 2, Điều 3 Luật Giao dịch điện tử năm 2023 7 động thương mại điện tử có những đặc trưng riêng biệt mà thương mại truyền thống không có, cụ thể như sau: Thứ nhất, thương mại điện tử là hoạt động giao dịch mua bán hoàn toàn dựa trên nền tảng trực tuyến. Nếu hoạt động thương mại truyền thống nếu muốn thực hiện được bắt buộc người mua và người bán phải có một địa điểm tập kết và chuyển giao, gặp mặt để ký kết thì hoạt động thương mại điện tử đã rút ngắn đi những công đoạn đó. Quá trình thực hiện giao kết hợp đồng thương mại trải qua rất nhiều công đoạn, chính vì vậy nếu thực hiện hoạt động thương mại truyền thống sẽ gây mất rất nhiều thời gian, chi phí,… Thay vào đó, khi thực hiện giao kết hợp đồng thông qua hoạt động thương mại điện tử các bên chỉ cần thông qua phương tiện điện tử có kết nối internet đã có thể thực hiện các giao dịch với nhau một cách dễ dàng, giảm thiểu đáng kể các chi phí và thời gian. Quan trọng hơn, thông qua hoạt động thương mại điện tử, các giao dịch có thể được thực hiện mọi lúc mọi nơi chỉ cần có các phương tiện điện tử có kết nối internet.
Do đó, hiện nay các doanh nghiệp đang đưa các phương tiện điện tử vào hoạt động kinh doanh của mình ngày càng phổ biến hơn để phục vụ nhu cầu của mình. Thứ hai, hoạt động thương mại điện tử sẽ bao gồm 04 chủ thể chính đó là: Người bán, người mua và bên thứ ba là bên cung cấp mạng internet và cơ quan kiểm soát. Trong hoạt động thương mại truyền thống, các chủ thể tham gia sẽ phát sinh thêm có thể là bên thứ tư, bên thứ năm,… nhưng đều có chung mục đích là hướng đến việc giao kết bản hợp đồng thương mại. Trái ngược với thương mại truyền thống, hoạt động thương mại điện tử có sự xuất hiện của bên thứ ba với vai trò là bên đảm bảo cho các hoạt động diễn ra trơn tru, mượt mà và đúng thủ tục.
Bên thứ ba trong hoạt động thương mại điện tử xuất hiện nhằm đảm bảo cho các dịch vụ mạng internet diễn ra một cách liên tục, không bị gián đoạn gây ảnh hưởng đến các hoạt động thương mại điện tử, ngoài ra còn công nhận cho việc thực hiện giao kết hợp đồng giữa người bán và người mua diễn ra một cách hợp pháp, hợp đồng và các điều khoản được ký kết thực hiện một cách có hiệu lực pháp luật. Bên cung cấp mạng và chứng thực trong thương mại điện tử tuy không tham gia vào ký kết hợp đồng thương mại nhưng đóng vai trò rất quan trọng giúp cho việc thực hiện giao kết hợp đồng diễn ra đúng theo quy định, quy trình. Thứ ba, hoạt động thương mại điện tử diễn ra trên toàn cầu, không có biên giới trong giao dịch thương mại. Chỉ cần có các phương tiện điện tử có kết nối internet thì dù ở bất cứ đâu, bạn vẫn có thể tham gia các giao dịch điện tử một cách linh hoạt được.
Đối với hoạt động thương mại truyền thống, sẽ bị giới hạn trong khuôn khổ biên giới quốc gia, khu vực, chính vì vậy gây khó khăn cho các bên khi tham gia giao thỏa thuận, ký kết hợp đồng. 8 Thứ tư, trong thương mại điện tử, hệ thống thông tin được coi là tài nguyên vô giá, tạo ra thị trường cho các giao dịch. Hoạt động thương mại điện tử diễn ra trên hình thực online, điều đó có nghĩa người bán muốn bán được sản phẩm của mình thì bắt buộc phải có hệ thống thông tin của sản phẩm cũng như dịch vụ chăm sóc khách hàng để người mua có thể tiếp cận được dịch vụ một cách tốt nhất trước khi quyết định mua chúng. Những thông tin này phải đảm bảo về độ uy tín, chuẩn xác và độ tin cậy cao dựa trên: Hình ảnh, video, review thực tế về sản phẩm, nguồn gốc xuất xứ của sản phẩm,… thì mới có thể thu hút được người mua.