CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƯỜI TIÊU DÙNG TRONG GIAO DỊCH THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ 1. Lý luận về người tiêu dùng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 1. Người tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng 1. Người tiêu dùng: Danh từ NTD được biết đến, sử dụng rộng rãi và từ lâu đời.
Trong cuốn Luật bảo vệ quyền lợi NTD [9],“NTD được sử dụng để chỉ những chủ thể tiêu thụ của cải được tạo ra bởi nền kinh tế”. Còn trên phương diện khoa học pháp lý thì NTD lại là chủ thể của quan hệ pháp luật được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Cụ thể: Trong Luận án tiến sĩ của mình, với đề tài “Thực hiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam 2012”, Lê Thanh Bình đã viết: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ không nhằm mục đích kinh doanh”. Từ khái niệm này, có thể hiểu tác giả cho rằng bất kì ai khi có hành vi mua sắm, sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ mà nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng hoặc mục đích khác không bao gồm mục đích kinh doanh, sinh lợi thì đều là NTD.
Trong Luận án tiến sĩ Luật học với đề tài “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay 2013”, Nguyễn Thị Thư cũng cho rằng: “NTD là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh hoạt, tiêu dùng của cá nhân”. Nhưng khác với Lê Thanh Bình, trong Luận án của ông không đề cập cụ thể chủ thể thực hiện hành vi tiêu dùng là ai, mà chỉ gọi chung đối tượng này là “người”, ngược lại trong Luận án của tác giả Nguyễn Thị Thư lại chỉ đích danh NTD là để chỉ cá nhân tham gia mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích sinh hoạt. Nhìn chung, khái niệm NTD luôn tồn tại 03 đặc điểm về (i) chủ thể thực hiện hành vi, (ii) không nhằm mục đích sinh lợi, (iii) đối tượng của giao dịch là hàng hóa hoặc dịch vụ. Tuy nhiên, sự khác nhau giữa các quan điểm bắt nguồn từ việc xác định chủ thể thực hiện hành vi tiêu dùng: quan điểm thứ nhất cho rằng NTD chỉ là cá nhân, ngược lại quan điểm thứ hai lại khẳng định NTD không chỉ bao gồm cá nhân mà rộng hơn, bao gồm các chủ thể khác tồn tại trong xã hội.
Trong việc định nghĩa khái niệm NTD tại pháp luật của các quốc gia trên thế giới, sự khác nhau này lại được thể hiện rõ hơn, cụ thể: 8 Quan điểm thứ nhất bao gồm các quốc gia điển hình như sau: Ở Liên minh Châu Âu (EU): Khái niệm NTD được giải thích trong Chỉ thị số 1999/44/EC ngày 25/5/1999 về việc mua bán hàng hóa tiêu dùng và các bảo đảm có liên quan. Chỉ thị giải thích: “NTD là bất cứ tự nhiên nhân (tức là cá nhân) nào … tham gia và các hợp đồng điều chỉnh trong Chỉ thị này … vì mục đích không liên quan tới hoạt động kinh doanh hoặc nghề nghiệp của mình” [15]. Ở Nhật Bản: “Điều 2-1, Luật về Hợp đồng tiêu dùng của Nhật Bản năm 2000 định nghĩa: NTD theo quy định của luật này là cá nhân nhưng không bao gồm trường hợp cá nhân tham gia quan hệ hợp đồng với mục đích kinh doanh”[13]. Quan điểm thứ hai bao gồm các quốc gia tiêu biểu như: Ở Đài Loan: NTD là những ai tham gia và các giao dịch sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ và mục đích là để tiêu dùng.
Như vậy, chủ thể tham gia vào các giao dịch ở đây có thể được hiểu bao hàm cả thể nhân và pháp nhân, miễn là mục đích của họ là tiêu dùng. Ở Malaysia: Điều 3 Luật Bảo vệ NTD năm 1999 của Malaysia giải thích: “NTD là người mua hoặc sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ cho mục đích sinh hoạt cá nhân hoặc sinh hoạt gia đình… và không gồm việc mua hoặc sử dụng hàng hóa vì mục đích chính để bán lại hoặc đưa vào quá trình sản xuất hàng hóa, dịch vụ khác hoặc để dùng cho việc sửa chữa, gắn thêm vào hàng hóa khác” [15]. Ở Việt Nam, khái niệm NTD xuất hiện lần đầu tại Pháp lệnh bảo vệ NTD năm 1999 quy định như sau: “Điều 1. NTD là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức.” Năm 2010 Luật Bảo vệ quyền lợi NTD có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2011 đã thay thế Pháp lệnh Bảo vệ NTD năm 1999, tuy nhiên định nghĩa về NTD lại được kế thừa hoàn toàn từ pháp lệnh trên.
Dựa theo quy định này thì khái niệm NTD ở Việt Nam để chỉ các cá nhân, các tổ chức, ví dụ như doanh nghiệp, cơ quan quản lí nhà nước, … họ mua và sử dụng hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sinh hoạt cá nhân, gia đình hoặc tổ chức. Vì vậy, có thể khẳng định rằng định nghĩa về NTD theo pháp luật Việt Nam có sự tương đồng với các quốc gia thuộc hai nhóm quan điểm trên về mục đích tham gia quan hệ của NTD. Tuy nhiên, chủ thể thực hiện hành vi tiêu dùng ở Việt Nam được xác định gồm các chủ thể tương đồng với các nước thuộc nhóm quan điểm thứ hai. 9 Bản thân các quy định của pháp luật ở mỗi quốc gia, vùng lãnh thổ hay các dòng họ pháp luật thì đều tồn tại sự khác nhau về nội dung trong cùng một quy phạm pháp luật, chế định pháp luật.
Thực chất tồn tại sự khác biệt này là bởi lẽ pháp luật các quốc gia đều chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện khách quan như điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, tôn giáo,… Do đó, tồn tại hai quan điểm về chủ thể thực hiện hành vi tiêu dùng là hoàn toàn phù hợp. Nhóm các quốc gia có quan điểm chủ thể của hành vi tiêu dùng là cá nhân khi cho rằng trong quan hệ pháp luật với bên bán, NTD là cá nhân là bên cần được bảo vệ, mục đích của họ khi tham gia giao dịch là phục vụ nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng mà không bao gồm bất kì mục đích kinh doanh, nghề nghiệp hay sinh lợi nào khác. Đồng thời, dù các chủ thể khác trong quan hệ có là tổ chức hay pháp nhân thì khi tham gia giao dịch, chưa xét đến khía cạnh có hay không có mục đích sinh lợi thì họ đều là chủ thể có trình độ, quy mô, hoạt động theo tổ chức và dường như địa vị pháp lí của chủ thể này cũng ngang hàng với bên bán hàng hoá, cung cấp dịch vụ. Ngược lại, những quốc gia thuộc nhóm quan điểm thứ hai xuất phát từ mục đích của pháp luật là bảo vệ cho bên yếu thế hơn.
Họ cho rằng, trong quan hệ mua bán không nhằm mục đích sinh lợi này thì bất kì chủ thể nào khi tham gia vào quan hệ đều là bên yếu thế so với bên cung cấp hàng hóa, dịch vụ nên họ có thể bị xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp mà họ được hưởng. Tóm lại, qua quá trình tìm hiểu, nhóm nghiên cứu xin đưa ra định nghĩa về NTD như sau: “NTD là chủ thể thực hiện hành vi mua hàng hóa, sử dụng hàng hoá, dịch vụ không nhằm mục đích sinh lợi”. Vì vậy, nhóm chúng tôi ủng hộ quan điểm về việc xác định NTD theo quan điểm thứ hai cũng như là định nghĩa trong Luật Bảo vệ quyền lợi NTD 2010, chúng tôi cho rằng bất kì chủ thể nào, không phân biệt là cá nhân hay tổ chức khi tham gia vào quan hệ mua bán hàng hoá và sử dụng dịch vụ phục vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt nói chung thì đều là bên yếu thế trong quan hệ với nhà sản xuất hàng hóa, bên cung ứng hàng hóa dịch vụ, cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, cung cấp dịch vụ và từ đó họ có quyền nhận được sự bảo vệ của pháp luật về bảo vệ NTD. Quyền lợi của người tiêu dùng Bất kì một chủ thể nào khi tham gia vào các quan hệ xã hội thì đều làm phát sinh những quyền và nghĩa vụ nhất định.
Quyền và nghĩa vụ có mối quan hệ mật thiết và luôn song hành với nhau. Trong nhiều trường hợp, nghĩa vụ là cơ 10 sở để chủ thể có thể được hưởng quyền lợi. Do đó, trong quan hệ giữa NTD với cá nhân, tổ chức kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cũng tồn tại những quyền lợi này, trong quan hệ song vụ, quyền của bên này là nghĩa vụ đối ứng của bên kia. Nhằm mục đích xây dựng văn bản hướng dẫn cơ bản, mang ý nghĩa nền tảng và mang tính pháp lý quốc tế để đảm bảo việc bảo vệ quyền lợi của NTD đối với các quốc gia thành viên của Liên Hợp quốc.
Ngày 09/04/1985, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã bỏ phiếu thông qua Nghị quyết số 39/248 (sửa đổi tháng 12 năm 2015) tại New York, Hoa Kỳ. Nghị quyết bao gồm 99 điều và được chia thành 7 phần. Trong Nghị quyết này, nội dung liên quan đến việc bảo vệ quyền lợi NTD được xây dựng dưới góc độ có sự bất cân xứng về mặt kinh tế, giáo dục và thương lượng trong quá trình mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ giữa NTD và cá nhân, tổ chức kinh doanh. Những nhu cầu pháp lý mà bản hướng dẫn hướng tới bao gồm:“a) Bảo vệ NTD tránh những mối nguy hại về sức khỏe và an toàn; b) Ủng hộ và bảo vệ các quyền lợi kinh tế của NTD; c) Thông tin đầy đủ cho NTD để họ có thể lựa chọn sáng suốt theo nguyện vọng và nhu cầu cá nhân; d) Giáo dục NTD, bao gồm giáo dục về các tác động về mặt kinh tế, xã hội và môi trường đối với sự lựa chọn của NTD; e) Thực hiện việc đền bù một cách hữu hiệu cho NTD; f) Cho phép tự do thành lập các nhóm hay các tổ chức NTD thích hợp và tạo điều kiện cho các tổ chức đó trình bày quan điểm của mình trong các quá trình ra quyết định có ảnh hưởng đến họ.
g) Thúc đẩy tiêu dùng bền vững.” Các hướng dẫn của Nghị quyết về bảo vệ quyền lợi NTD cũng trong nhiều lĩnh vực, có thể kể đến an toàn thực phẩm, thúc đẩy và bảo vệ những quyền lợi kinh tế của NTD, các phương tiện phân phối hàng tiêu dùng thiết yếu, Các biện pháp giúp NTD được bồi thường,.