Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƯỜI SỐNG CHUNG VỚI HIV/AIDS 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Quyền con người Muốn hiểu về khái niệm quyền con người, trước hết ta cần hiểu định nghĩa “quyền”: Quyền là cái mà pháp luật, xã hội, phong tục hay lẽ phải cho phép hưởng thụ, vận dụng, thi hành. và khi thiếu được yêu cầu để có, nếu bị tước đoạt có thể đòi hỏi để giành lại.
Trên cơ sở đó ta tìm hiểu định nghĩa quyền con người. Hiện nay có rất nhiều cách định nghĩa về quyền con người đã được công bố. Tuy nhiên chưa định nghĩa nào được xem là chính thức và chứa đựng đầy đủ nội hàm của quyền con người. Mỗi cách định nghĩa lại dựa vào ý chí chủ quan và góc độ quan tâm của mỗi cá nhân.
Ở cấp độ quốc tế, có một định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người thường được trích dẫn bởi các nhà nghiên cứu. Theo định nghĩa này: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entilements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người”. Bên cạnh đó còn có cách định nghĩa của những nhà nghiên cứu theo trường phái quyền tự nhiên (natural rights): “Quyền con người là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người”. Ở cấp độ quốc gia cũng chưa có một định nghĩa chính thức nào về quyền con người.
Tuy nhiên, kết hợp giữa quan điểm của trường phái tự nhiên và pháp lý dưới góc độ quyền như trên hiện nay quyền con người ở Việt Nam được hiểu là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo 11 z vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế [14, tr. Như vậy để nhìn nhận quyền con người một cách chính xác cần phải quan tâm tới cả khía cạnh tự nhiên và pháp lý của quyền. Ngoài thuật ngữ quyền con người, ở Việt Nam cũng sử dụng một thuật ngữ khác là “nhân quyền” (Hán – Việt), cả hai thuật ngữ này đều có nội hàm giống nhau [27, tr. Quyền con người có những thuộc tính cơ bản: Tính phổ quát (universal); Tính không thể tước bỏ (inalienable); Tính không thể phân chia (indivisible); Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent).
Thứ nhất về tính phổ quát: Quyền con người có tính phổ quát toàn cầu (universal) tức là mọi thành viên trong xã hội không có sự phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, độ tuổi, địa vị xã hội, dân tộc… đều phải được bình đẳng trong việc hưởng thụ quyền. Xuất phát từ tính tự nhiên của quyền con người, con người sinh ra được hưởng các quyền tối thiếu cơ bản để họ sống cho ra một con người, những quyền đó là bẩm sinh vốn có, chính vì thế mọi người trên thế giới này đều có những quyền ngang bằng nhau; Thứ hai về tính không thể bị tước bỏ (inalienable): Tính chất này thể hiện ở việc quyền con người gắn chặt với chủ thể hưởng thụ quyền. Việc tước bỏ bất cứ quyền nào của con người cần phải có lý do hợp lý và cần thiết, không được tùy tiện. Việc tước bỏ hay hạn chế quyền của ai đó từ phía các cơ quan, quan chức nhà nước, các tổ chức và bất cứ chủ thể nào đều được coi là vi phạm quyền con người, cần phải chịu những chế tài thích đáng và phải thực hiện những biện pháp khôi phục lại những quyền con người đã bị xâm hại; Thứ ba về tính không thể phân chia (indivisible): Quyền con người được phân ra thành nhóm quyền về chính trị dân sự và quyền về kinh tế văn hóa xã hội trong đó bao gồm rất nhiều quyền cụ thể.
Nhận thức chung của nhân loại rằng các quyền con người đều có tầm quan trọng như nhau đối với nhân phẩm, giá trị và sự phát triển của một con người, vì thế khi tiếp cận quyền con người không được coi trọng hay xem nhẹ bất cứ quyền nào so với các quyền khác. Thứ tư về tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau (interrelated, interdependent): Các quyền con người đều có mối liên hệ ràng buộc chặt chẽ và không thể phân chia. Mỗi quyền đều là một bộ phận không thể tách rời của một tổng thể quyền. Như vậy 12 z khi có hành vi xâm hại bất cứ một quyền nào đó, một cách trực tiếp hay gián tiếp các quyền còn lại cũng bị vi phạm ở mức độ cao hay thấp.
Đảm bảo quyền con người cần phải đảm bảo đồng bộ tất cả các quyền riêng lẻ từ quyền dân sự chính trị đến các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Các bộ phận cấu thành nên quyền con người bao gồm: quyền chính trị dân sự và quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Quyền dân sự, chính trị (civil rights, political rights) được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người 1948 (UDHR), sau đó được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác mà đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR). Cụ thể nhóm quyền dân sự chính trị bao gồm các quyền và tự do sau: Quyền không bị phân biệt đối xử, được thừa nhận và bình đằng trước pháp luật; Quyền sống, tự do và an ninh cá nhân; Quyền về xét xử công bằng; Quyền về tự do đi lại, cư trú; Quyền được bảo vệ đời tư; Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng tôn giáo; Quyền kết hôn, lập gia đình và bình đẳng trong hôn nhân; Quyền tự do biểu đạt; Quyền tự do lập hội; Quyền tự do hội họp một cách hòa bình; Quyền tham gia vào đời sống chính trị; Bộ phận cấu thành còn lại là nhóm quyền văn hóa, kinh tế, xã hội (economic rights, social rights, cultural rights).
Nhóm quyền này cũng được ghi nhận trong Tuyên ngôn toàn thế giới về nhân quyền năm 1948 và được tái khẳng định và cụ thể hóa trong nhiều văn kiện quốc tế khác đặc biệt là Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa (ICESCR). Cụ thể nhóm quyền kinh tế, xã hội, văn hóa bao gồm những quyền sau: Quyền được hưởng và duy trì tiêu chuẩn sống thích đáng; Quyền lao động; Quyền được hưởng an sinh xã hội; Quyền được hưởng hỗ trợ về gia đình; Quyền được hưởng sức khỏe về thể chất và tinh thần; Quyền giáo dục; Quyền được tham gia vào đời sống văn hóa và được hưởng các thành tựu của khoa học. Quan hệ pháp luật nhân quyền là quan hệ giữa chủ thể hưởng quyền với nhà nước, chính phủ và các chủ thể khác (chủ thể thứ 3). Trong đó có thể thấy: Chủ thể của quyền (right – bearers) bao gồm các cá nhân, các nhóm xã hội nhất định.
Bên cạnh các quyền cá nhân (individual rights), người ta còn đề cập đến quyền của nhóm (group rights). Cá nhân hưởng quyền là bất cứ thành viên nào 13 z trong xã hội không kể đến những điểm đặc thù về nhân thân, ý chí cũng như thành phần xã hội, giới tính, tôn giáo, dân tộc…đều được hưởng quyền. Chủ thể hưởng quyền là nhóm xã hội là tập hợp những cá nhân có chung những đặc điểm đặc thù cho nhóm xã hội của mình; Chủ thể mang nghĩa vụ (duty – bearers) là các nhà nước mà cụ thể là các chính phủ, các cơ quan nhà nước khác cùng các viên chức hay những người làm việc cho các cơ quan nhà nước. Nhà nước có ba nghĩa vụ chính: tôn trọng (obligation to respect); bảo vệ (obligation to protect); thực thi (obligation to fufill); Chủ thể phi nhà nước (non – state actors) bao gồm: các tổ chức, thể chế quốc tế (international bodies), các đảng phái chính trị (political parties), các doanh nghiệp (companies), các tổ chức phi chính phủ quốc gia và quốc tế (NGOs), các cộng đồng (communities), gia đình (families), các cá nhân (individual).
Nhóm chủ thể phi nhà nước này có tác động hai chiều cả tích cực và tiêu cực tới việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người. Việc phân loại chủ thể luật nhân quyền rất quan trọng tới việc bảo đảm quyền con người. Mỗi nhóm chủ thể có quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm khác nhau. Muốn đảm bảo quyền con người cần tác động tích cực tới việc thực hiện quyền hay nghĩa vụ của từng nhóm chủ thể.
HIV/AIDS và người sống chung với HIV/AIDS 1. HIV/AIDS Theo định nghĩa của cục phòng chống HIV/ AIDS bộ y tế: HIV (tiếng Anh: human immunodeficiency virus) là virus gây ra hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người. HIV gây tổn thương hệ thống miễn dịch của cơ thể và làm cho cơ thể không còn khả năng chống lại các tác nhân gây bệnh. Người bệnh nhiễm HIV trải qua giai đoạn cấp tính, sau đó là mãn tính và cuối cùng là giai đoạn AIDS.
AIDS (tiếng Anh: Accquired Immune Deficiency Syndrom) là chứng bệnh phát triển qua một thời gian sau khi đã bị nhiễm HIV. AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn dịch dẫn đến tử vong [44]. Ca nhiễm HIV/AIDS đầu tiên được phát hiện từ đầu thập kỷ 80 thế kỷ XX sau đó nhanh chóng lan rộng thành đại 14 z dịch trên toàn cầu. Theo thống kê của Tổ chức UNAIDS cho đến năm 2006 thế giới đã có hơn 2,9 triệu người chết vì AIDS, khoảng 39,5 triệu người đang sống chung với HIV/AIDS, con số này tới cuối năm 2011 là 34 triệu người.
Còn ở Việt Nam, đến cuối năm 2010 cả nước có 183.938 người nhiễm HIV đang còn sống, trong đó có 44.022 người ở giai đoạn AIDS và kể từ đầu vụ dịch đến nay đã có 49.477 người tử vong do HIV/AIDS. Qua các số liệu giám sát cho thấy dịch HIV/AIDS đã xuất hiện ở 100% tỉnh, thành phố từ năm 1998, đến cuối năm 2010, 97,9% số quận, huyện và trên 75,23%, số xã, phường có người nhiễm HIV/AIDS được báo cáo [33, tr. Trong thời gian qua nhờ có sự tiến bộ của y học, sự hỗ trợ đắc lực từ phía các tổ chức trong và ngoài nước, công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, số người nhiễm HIV/AIDS trong thời gian gần đây được kiềm chế và có xu hưởng giảm.