phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo theo quy định, kếu cấu nhƣ sau: - Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam. - Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật doanh nghiệp về bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần tại Việt Nam. - Chƣơng 3: Định hƣớng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bảo vệ cổ đông thiểu số 6 CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO VỆ CỔ ĐÔNG THIỂU SỐ TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN THEO PHÁP LUẬT DOANH NGHIỆP VIỆT NAM 1. Khái niệm về cổ đông và cổ đông thiểu số 1.
Khái niệm về cổ đông Theo khoản 3 Điều 4 LDN 2020 “cổ đông là cá nhân hoặc tổ chức sở hữu ít nhất một cổ phần của công ty cổ phần”. Nói cách khác, cổ đông chính là ngƣời góp vốn vào công ty cổ phần và sở hữu phần vốn góp tƣơng ứng với số lƣợng cổ phần đã mua trong công ty. Cổ phần chính là vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau, cũng chính là phần vốn nhỏ nhất của CTCP. Chứng chỉ xác nhận quyền sở hữu này gọi là cổ phiếu.
Về bản chất, cổ đông là thực thể đồng sở hữu công ty cổ phần chứ không phải là chủ nợ của công ty đó do vậy quyền lợi và nghĩa vụ của họ gắn liền với kết quả hoạt động của doanh nghiệp. Nhà đầu tƣ mua cổ phiếu của một doanh nghiệp sẽ trở thành cổ đông của doanh nghiệp đó. Theo quy định LDN 2020, tƣ cách cổ đông của tổ chức, cá nhân có thể đƣợc xác lập trong các trƣờng hợp sau: đăng ký mua cổ phần tại thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp; mua cổ phần do công ty chào bán trong phạm vi cổ phần đƣợc quyền chào bán; nhận chuyển nhƣợng cổ phần từ cổ đông của công ty; thừa kế cổ phần thuộc di sản của ngƣời để lại thừa kế; đƣợc cổ đông của công ty tặng cho; mua cổ phần đƣợc bán đấu giá để thi hành án. Tại Việt Nam, pháp luật không có quan niệm và công nhận về CTCP có một cổ đông.
Nhƣng trên thực tế hoạt động của một số CTCP thì có loại hình CTCP chỉ có một cổ đông chi phối hoặc biến tƣớng để phù hợp khi đăng ký thành lập nhƣng thực tế hoạt động điều hành chỉ có một cổ đông. Trong giáo trình Luật thƣơng mại của PGS.TS Ngô Huy Cƣơng, “cũng có khái quát về pháp luật nhiều nước trên thế 7 giới có thừa nhận và điều tiết Công ty cổ phần một thành viên” [6, tr. Tại Điểm b, Khoản 1 Điều 111 LDN 2020 quy định “trong Công ty cổ phần bắt buộc phải có tối thiểu 03 cổ đông và không hạn chế số lượng tối đa. Mọi CTCP đều phải lập sổ đăng ký cổ đông theo quy định, sổ đăng ký cổ đông có thể là văn bản, tập dữ liệu điện tử hoặc cả hai loại này.
Phải đƣợc lƣu trữ tại trụ sở chính của doanh nghiệp hoặc trung tâm lƣu ý chứng khoán. Cổ đông đƣợc quyền kiểm tra, tra cứu, trích lục, sao chép nội dung sổ đăng ký cổ đông. Việc quy định sổ cổ đông và cách thức quản lý sổ cổ đông và thông tin trao đổi đƣợc quy định tại Khoản 2 Điều 122 LDN 2020. Tuỳ theo cách phân loại theo quyền và nghĩa vụ gắn liền với loại cổ phiếu mà cổ đông sở hữu, cổ đông đƣợc phân thành nhƣ sau: cổ đông sáng lập, cổ đông phổ thông và cổ đông ƣu đãi.
Tuỳ theo tỷ lệ cổ phần mà cổ đông nắm giữ trong một công ty, cổ đông đƣợc phân loại thành: - Cổ đông lớn: do điều lệ công ty cổ phần quy định tỷ lệ để đƣợc coi là cổ đông lớn trên cơ sở pháp luật hiện hành. Theo Điều 2, Thông tƣ số 155/2015/TT- BTC về việc hƣớng dẫn công bố thông tin trên thị trƣờng chứng khoánquy định “cổ đông lớn là nhóm người có liên quan sở hữu từ 5% trở lên số cổ phiếu đang lưu hành có quyền biểu quyết của công ty đại chúng; nhà đầu tư sở hữu từ 5% trở lên chứng chỉ quỹ của quỹ đóng; cổ đông sáng lập trong thời gian bị hạn chế chuyển nhượng của công ty đại chúng, công ty đầu tư chứng khoán đại chúng; thành viên sáng lập của quỹ đại chúng”. - Cổ đông nhỏ: Nhƣ đề cập định nghĩa về cổ đông lớn, thì có thể hiểu “cổ đông nhỏ là những cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp dưới 5% số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Căn cứ vào khả năng chi phối của công ty, cổ đông đƣợc chia thành 02 loại: Cổ đông đa số và CĐTS.
Khái niệm về cổ đông thiểu số Pháp luật thực định của Việt Nam chƣa có một định nghĩa về CĐTS hay các đặc điểm của CĐTS. Tuy nhiên, trong các văn bản pháp luật cụ thể đã tồn tại nhiều thuật ngữ dùng để chỉ CĐTS, nhƣ cổ đông ít vốn, cổ đông nhỏ. Hiện nay, tồn tại ba quan điểm về CĐTS: Quan điểm thứ nhất khái niệm CĐTS dựa trên khái niệm của cổ đông lớn. Trong khi Luật doanh nghiệp không định nghĩa cổ đông lớn và cổ đông thiểu số, thì Hiện nay có hai văn bản luật trực tiếp quy định về cổ đông lớn đó là Luật các tổ chức tín dụng 2010 và Luật chứng khoán 2006.
Khoản 26 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng 2010 khái niệm“cổ đông lớn của tổ chức tín dụng cổ phần là cổ đông sở hữu trực tiếp gián tiếp từ 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng cổ phần”. Khoản 18, Điều 4 Luật chứng khoán 2019 khái niệm “cổ đông lớn là cổ đông sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp từ 5% trở lên số cổ phiếu có quyền biểu quyết của tổ chức phát hành”. Cả hai luật trên đều đƣa ra một tỷ lệ là 5% để phân ranh giới giữa cổ đông lớn và loại cổ đông còn lại trong CTCP, vì vậy có thể khái quát rằng cổ đông nhỏ hay còn gọi là CĐTS là cổ đông sở hữu dƣới 5% vốn cổ phần có quyền biểu quyết. Cách đề cập nhƣ trên là chƣa hợp lý bởi vì những tỷ lệ này chƣa đủ phản ánh bản chất của CĐTS, mà tỷ lệ này đƣợc quy định nhằm mục đích để ghi nhận các quyền lợi cho cổ đông lớn.
Quan điểm thứ hai cho rằng loại hình CTCP là loại công ty đối vốn, nên một khi cổ đông góp nhiều vốn (cổ phần) thì sẽ có nhiều quyền hơn so với các cổ đông khác và ngƣợc lại. Nên từ đó hiểu rằng, CĐTS là những cổ đông sở hữu một tỷ lệ phần trăm tƣơng đối nhỏ cổ phần có quyền biểu quyết trong CTCP. Cách tiếp cận này cũng có lý nhƣng chƣa đầy đủ, vì có những trƣờng hợp các CĐTS tập hợp lại thành nhóm cổ đông, đạt đƣợc một mức chi phối thì có thể chi phối đƣợc công ty, trong khi đó các cổ đông đƣợc coi là cổ đông lớn lại có thể bị lép với bởi nhóm cổ 9 đông này. Ví dụ trong trƣờng hợp có 40 cổ đông, trong đó có 01 cổ đông sở hữu 22% cổ phần của công ty và 39 cổ đông còn lại mỗi cổ đông sở hữu 2% cổ phần công ty.
Thông thƣờng cổ đông có tỷ lệ cổ phần sở hữu đạt 22% thì đƣợc xem là cổ đông lớn. Và cổ đông nắm giữ 2% là cổ đông nhỏ, các cổ đông này tập hợp lại cổ phần của mình, tạo thành nhóm cổ đông sở hữu 78% cổ phần công ty thì cổ đông sở hữu 22% cổ phần trong công ty lại ở vào vị trí CĐTS do bị hạn chế về khả năng chi phối các quyền điều hành và định đoạt trong công ty. Quan điểm thứ ba, theo quan điểm của Phó Giáo sƣ, Tiến sĩ Bùi Xuân Hải (2018) trong cuốn giáo trình pháp luật về chủ thể kinh doanh định nghĩa “Cổ đông thiểu số dựa trên cả hai yếu tố quan trọng: thứ nhất, là phần vốn góp của họ (tỷ lệ phần trăm có quyền biểu quyết) hay phần vốn góp của họ trong vốn điều lệ của công ty. Thứ hai là khả năng trong việc tác động và chi phối đến các vấn đề quan trọng cũng như có quyền biểu quyết thông qua các vấn đề được đưa ra tại Đại hội đồng cổ đông”.
Theo nhƣ Luật sƣ Nguyễn Ngọc Bích và Tiến sĩ Nguyễn Đình Cung trong trang 349 sách Công ty, vốn, quản lý và tranh chấp theo luật doanh nghiệp 2005 thì cho rằng “đượcgọi là cổ đông ít vốn hay nhiều vốn là khi phải nói đến số lượng tiền họ bỏ ra thực tế để góp vốn vào công ty và gọi là đa số hay thiểu số là khi họ thực thi và khả năng thực hiện quyền biểu quyết”. Nhà nghiên cứu Nguyễn Hoàng Thuỳ Trang (2015) cho rằng “nếu tỷ lệ cổ phần của cổ đông mà không quyết định và kiểm soát công ty thì bản thân số lượng cổ phần không thể nói lên được vị trí của cổ đông là cổ đông thiểu số hay cổ đông đa số”. Từ những phân tích trên cho thấy việc xác định CĐTS nên theo hƣớng mở tuỳ thuộc cơ cấu cổ đông từng doanh nghiệp, theo đó khi nhận định CĐTS không nên chỉ căn cứ vào việc ấn định tỷ lệ sở hữu vốn cụ thể mà cần phải xem xét khả năng chi phối của cổ đông trong việc thực hiện quyền điều hành công ty. Nói một cách khác, CĐTS nên đƣợc hiểu và xác định chính xác tuỳ thuộc vào cơ cấu sở 10 hữu thực tế trong mỗi CTCP.
Theo thông lệ quốc tế về quản trị công ty tốt thì đƣợc xem là CĐTS (minority shareholders) khi mà cổ đông/nhóm cổ đông đó không có quyền biểu quyết hoặc nắm tỷ lệ cổ phần có quyền biểu quyết dƣới 50%, do quy định tại luật pháp đa số các nƣớc tiên tiến là các Nghị quyết ĐHCĐ đƣợc thông qua khi có số cổ phần có quyền biểu quyết chỉ cần từ 51% trở lên là hợp pháp. Dù tồn tại nhiều quan điểm khác nhau, về mặt lý luận, có thể hiểu CĐTS là cổ đông không chi phối đƣợc công ty, không có khả năng áp đặt quan điểm, ý chí, đƣờng lối, sách lƣợc của mình trong công ty… khi các cổ đông thực hiện các quyền của mình. Thực tế cho thấy tỷ lệ phần vốn góp mà cổ đông nắm giữ quyết định khảnăng tham gia vào quá trình quản lý, kiểm soát CTCP. Theo đó, các cổ đông hoặc nhóm cổ đông có tỷ lệ sở hữu cổ phần càng cao thì khả năng chi phối các vấn đề lớn của công ty càng lớn và ngƣợc lại.