CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NHÃN HIỆU ÂM THANH 1. Khái quát nhãn hiệu âm thanh 1. Lược sử phát triển của nhãn hiệu âm thanh Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế tri thức hiện đại, được ghi nhận minh thị trong các văn bản pháp luật từ rất sớm, với minh chứng là đạo luật Venice 14742 và ngày càng được đề cao, củng cố, khẳng định vị trí cho đến hiện nay.
Đó là “quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực công nghệ, khoa học, văn học và nghệ thuật bao gồm quyền sở hữu công nghiệp như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và chỉ dẫn địa lý, quyền tác giả, quyền liên quan”3. Tìm hiểu về lịch sử hình thành và phát triển của nhãn hiệu góp phần mô tả đôi nét về bản chất của nhãn hiệu âm thanh, cho thấy tính quy luật tất yếu của quá trình phát triển của nhãn hiệu từ những dấu hiệu cơ bản nhìn thấy được mở rộng sang các đối tượng phi truyền thống cảm nhận bằng tổng hoà các giác quan của con người. Là một bộ phận của quyền sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu công nghiệp ngày càng trở nên thiết yếu trong nền kinh tế bởi “cơ chế bảo hộ sở hữu công nghiệp được thiết lập nhằm mục đích điều chỉnh các quan hệ nảy sinh trong quá trình kinh doanh, trước hết là trong hoạt động sản xuất và thương mại”4. Quyền sở hữu công nghiệp bao gồm nhiều đối tượng, chẳng hạn kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh, …5 trong đó nhãn hiệu được xem là “loại đối tượng” hỗ trợ kết nối giữa doanh nghiệp và người tiêu dùng một cách hiệu quả nhất.
Ý nghĩa của nhãn hiệu trong nền kinh tế thị trường là vô cùng lớn. Nhãn hiệu được xem là dấu hiệu dùng để phân biệt các loại hàng hóa dịch vụ. Do đó, trong thương mại, nhãn hiệu được sử dụng giúp người tiêu dùng nhận biết, và đồng thời đây cũng là yếu tố giúp doanh nghiệp tạo nên vị thế, không ngừng nâng cao uy tín của mình trên thị trường. 2 Đạo luật này ra đời năm 1474, trở thành văn bản pháp lý đầu tiên tạo cơ chế cho việc bảo hộ sáng chế tại Italy.
Xem thêm: Claudia Angélica Córdova González, Mónica Guadalupe Chávez Elorza (2021), “Review of the International Patent System: From the Venice Statute to Free Trade Agreements”, Mexican Law Review, p. 3 Trần Kiên (chủ biên) (2020), Sự xung đột giữa quyền con người và quyền sở hữu trí tuệ - Tiếp cận từ triết lý pháp luật và thực tiễn pháp lý, NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, tr.vn/thanhtra/tin-tuc/4/265/quyen-so-huu-cong-nghiep-la-tai-san-cua-doanh-nghiep- quan-ly-va-bao-ho.aspx, ngày truy cập: 10/6/2022. 5 Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT.
13 Pháp luật về nhãn hiệu phát triển suốt một chặng đường dài. Cụm từ “thương hiệu” (brand) hay “nhãn hiệu” (trademark) đã tồn tại từ trong thế giới cổ đại.000 năm, những người thợ thủ công Ấn Độ đã từng khắc chữ ký lên các tác phẩm nghệ thuật của họ trước khi gửi đến Iran. Các nhà sản xuất từ Trung Quốc đã bán hàng hóa mang nhãn hiệu của họ ở khu vực Địa Trung Hải hơn 2.000 năm trước, có thời điểm khoảng một nghìn dấu hiệu để phân biệt hàng hoá của các thương nhân kinh doanh đồ gốm La Mã khác nhau đã được sử dụng, bao gồm cả dấu hiệu có tên là “Fortis”, dấu hiệu này sau đó đã trở nên nổi tiếng đến mức nó bị sao chép và làm giả6. Như vậy, ngay từ thời trung cổ, việc các thương nhân sử dụng ký hiệu của riêng mình nhằm tạo cho người tiêu dùng nhận biết hàng hoá, dịch vụ do mình cung ứng đã xuất hiện, đây là nhu cầu tất yếu của chính các thương nhân và của chính người tiêu dùng.
Điều này cho thấy tính thiết của việc ghi nhận và cơ chế bảo hộ của pháp luật trước những hành vi cố tình làm giả, xâm phạm đến quyền của người sở hữu dấu hiệu đó. Như Thẩm phán Clifford – Toà án Hoa Kỳ đã từng nói rằng các tòa án ở tất cả các quốc gia văn minh trong nhiều thế kỷ đã dành sự bảo hộ cho nhãn hiệu thương mại, đối tượng của sự bảo hộ đó không chỉ để đảm bảo cho cá nhân thành quả của kỹ năng, ngành công nghiệp và doanh nghiệp của họ, mà còn để bảo vệ công chúng chống lại hành vi gian lận7. Do đó, vấn đề bảo hộ những dấu hiệu để phân biệt hàng hoá, dịch vụ của các chủ thể được hệ thống pháp luật các quốc gia bắt đầu ghi nhận như một quy luật tất yếu. Lần đầu tiên việc bảo hộ nhãn hiệu được đề cập xuất phát từ vụ việc JG và Samford vào cuối thế kỷ XVI.
Theo đó, lập luận được đưa ra rằng việc sử dụng dấu hiệu gắn trên vải kém chất lượng mà dấu hiệu đó đã được sử dụng bởi một nhà sản xuất khác đã có danh tiếng lớn về vải của mình là hành vi không đúng8. Sau đó, những vụ việc tranh chấp về tên gọi của dấu hiệu, về vấn đề sử dụng dấu hiệu, làm giả dấu hiệu của các thương nhân tại Anh diễn ra gay gắt, chẳng hạn vụ việc Knott và 6 http://www.kh/DocResources/b7a2a188-1a2f-4e55-9286-8524d2c57411_007729c5-60a9- 47f0-83ac-7f70420b9a34-en.pdf, ngày truy cập: 18/6/2022. 7 Case: Manhattan Med. Dịch từ nguyên văn: “His trade-mark is both a sign of the quality of the article and an assurance to the public that it is the genuine product of his manufacture.
It thus often becomes of great value to him, and in its exclusive use the court will protect him against attempts of others to pass off their products upon the public as his. This protection is afforded not only as a matter of justice to him, but to prevent imposition upon the public”. Milsom (1986), Sources of English Legal History: Private Law to 1750, London: Butterworths, p. 14 Morgan9, theo đó, Toà án đã ban hành lệnh cấm một công ty vận tải hành khách làm dịch vụ giả mạo Công Ty London Conveyance của nguyên đơn, sử dụng dấu hiệu gắn lên dịch vụ xâm phạm đến Công ty London Covayance.
Hay vụ việc giữa Perry và Truefitt10, các bên tranh chấp dấu hiệu “Medicated Mexican Balm” với “Truefitt's Medicated Mexican Balm”. Kết luận chỉ ra rằng, một người không được bán hàng hóa của chính mình với lý do rằng chúng là hàng hóa của người khác; người đó không thể được phép thực hiện hành vi lừa dối như vậy. Người bán không thể được phép sử dụng tên hay dấu hiệu nào khác mà họ có thể khiến người mua tin rằng hàng hóa mà họ đang bán là sản phẩm của người khác. Đây được xem là hành vi lừa dối11.
Trước tính cấp thiết của thực tiễn nêu trên, lời kêu gọi công nhận nhãn hiệu thương mại như tài sản lần đầu tiên xuất hiện vào cuối những năm 1850 như một phần của chiến dịch tổng thể hơn về luật pháp nhằm tăng cường quyền của thương nhân chống lại hành vi vi phạm bản quyền12. Năm 1862, một Dự luật gọi là “Sheffield Bill” đã được đưa vào Hạ viện đề xuất rằng nhãn hiệu thương mại được công nhận rõ ràng là “tài sản”. Khoản 9 quy định rằng nhãn hiệu thương mại đã đăng ký “sẽ được coi là tài sản cá nhân của chủ sở hữu, và sẽ được chuyển giao theo các quy tắc thông thường của pháp luật ảnh hưởng đến tài sản cá nhân”13. Tuy nhiên, văn bản này dần ít được quan tâm do người ta lo ngại về vấn đề chuyển giao quyền với nhãn hiệu sẽ làm mất đi tính chất chỉ dẫn nguồn gốc của nó14, song đây là văn bản tham khảo quan trọng trong các thảo luận về tính pháp lý của nhãn hiệu sau này.
Vấn đề bảo hộ nhãn hiệu được manh nha mở rộng trên phạm vi quốc tế vào những năm 1858 khi mà các thương nhân Anh đã tìm kiếm sự trợ giúp của chính phủ trong việc đạt được một số loại công nhận quốc tế về quyền của họ, theo đó mối quan tâm hàng đầu của các thương nhân là ngăn chặn việc sử dụng các nhãn hiệu thương mại của Anh ở nước ngoài, đặc biệt là ở Đức. Một vụ việc điển hình kể đến là một thương nhân sản xuất thép Sheffield đệ trình lên Ngoại trưởng Bộ Ngoại giao, Bá 9 https://vlex.uk/vid/knott-v-morgan-803533217, ngày truy cập: 19/6/2022.uk/perry-v-truefitt-ca-8-dec-1842/, ngày truy cập: 19/6/2022.int/edocs/mdocs/sme/en/wipo_ip_bis_ge_03/wipo_ip_bis_ge_03_18-related1.pdf, ngày truy cập: 23/10/2022. Ryland (1859), “The Fraudulent Imitation of Trade Marks”, Transactions of the National Association for the Promotion of Social Science 229, p. 13 Bill No 17 (February 18, 1862), Parliamentary Papers, Bills (Public) Vol.
14 Ludlow & Jenkyns (2015), A Treatise on the Law of Trade-Marks and Trade-Names 2, Leopold Classic Library, p. 15 tước Malmesbury đã tuyên bố rằng “luật pháp của Anh coi trọng và bảo vệ nhãn hiệu (trade marks) là tài sản tư nhân”15. Kể từ đó, các Hiệp ước, đạo luật ở một số quốc gia ra đời ghi nhận nhãn hiệu như một đối tượng cơ bản của quyền công dân. Chẳng hạn, Hiệp ước Áo ngày 16 tháng 12 năm 1865 đã tuyên bố rằng các bên của Hiệp định sẽ được hưởng như nhau sự bảo vệ đối với các quyền về tài sản trong nhãn hiệu thương mại và các nhãn hiệu phân biệt khác16, trong khi Hiệp ước Hoa Kỳ 1877 trao cho các đối tượng và công dân Hoa Kỳ các quyền tương tự như công dân Anh trong mọi thứ liên quan đến tài sản trong nhãn hiệu thương mại17.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng pháp luật sở hữu trí tuệ bắt đầu manh nha hình thành kể từ thời Pháp thuộc, đối với quyền tác giả được xác định hình thành muộn nhất dưới thời Hậu Lê18. Sắc lệnh chứa đựng các quy phạm về sở hữu trí tuệ áp dụng đầu tiên ở miền Nam năm 1864, sau đó phát triển cùng với tiến trình lịch sử, đến Bộ luật dân sự năm 1995 (Phần thứ sáu) đã thể hiện sự ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng có hệ thống các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ, cho đến khi Luật Sở hữu trí tuệ đầu tiên năm 2005 ra đời đánh giá bước chuyển mình của nền pháp luật Việt Nam khi hội nhập và tiệm cận với nền văn minh của thế giới trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Ban đầu, nhãn hiệu được tạo thành từ những dấu hiệu mang tính “truyền thống” như từ ngữ, biểu tượng, hoặc sự kết hợp của chúng để đảm nhận các chức năng giúp người tiêu dùng phân biệt hàng hoá, dịch vụ từ các nguồn cung ứng khác nhau, tuy nhiên, với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật, sự phủ sóng mạnh mẽ của Internet và các thiết bị kết nối, công nghệ hiện đại, những dấu hiệu cấu thành nên nhãn hiệu trở nên đặc trưng hơn, phong phú và đa dạng hơn, để nhãn hiệu không còn chỉ được nhận biết bằng thị giác mà còn các giác quan khác như thính giác, vị giác, khướu giác.