Tổng quan nghiên cứu

Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản phi vật thể vô giá, đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác Di sản truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại vào năm 2005, sau đó ghi danh vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào năm 2008. Tuy nhiên, trước tác động mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường và làn sóng đô thị hóa nhanh chóng, di sản này đang đối diện nguy cơ mai một nghiêm trọng. Thống kê thực tế tại tỉnh Đắk Lắk cho thấy số lượng cồng chiêng đã sụt giảm nghiêm trọng từ 4.675 bộ vào năm 1993 xuống chỉ còn 2.307 bộ vào cuối năm 2013, tức giảm hơn 50,6% trong vòng hai thập kỷ. Hiện tượng "chảy máu cồng chiêng", sự suy giảm số lượng nghệ nhân am hiểu kỹ thuật chỉnh chiêng cùng với sự thờ ơ của thế hệ trẻ đặt ra yêu cầu cấp bách phải đánh giá toàn diện các chính sách bảo tồn.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý văn hóa tập trung giải quyết vấn đề đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk. Mục tiêu nghiên cứu cụ thể bao gồm: hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực thi chính sách bảo tồn di sản; khảo sát, phân tích thực trạng triển khai các đề án bảo tồn giai đoạn 2005 - 2020 trên địa bàn 15 đơn vị hành chính cấp huyện; chỉ rõ những kết quả đạt được, hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân cốt lõi; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp mang tính khả thi nhằm hoàn thiện công tác quản lý nhà nước. Về mặt ý nghĩa, nghiên cứu cung cấp luận cứ khoa học thực tiễn giúp nâng cao hiệu lực phân bổ nguồn ngân sách nhà nước từ 10 đến gần 49 tỷ đồng qua các thời kỳ, đồng thời định hướng bảo tồn bền vững cho hơn 554 đội cồng chiêng tại các buôn làng đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn xây dựng trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp với quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII. Đề tài vận dụng lý thuyết văn hóa của nhà nhân học E. Taylor và định nghĩa của UNESCO, nhìn nhận văn hóa gồm hai thành tố cơ bản là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ. Theo Luật Di sản văn hóa năm 2001 và Luật sửa đổi, bổ sung năm 2009, Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là di sản văn hóa phi vật thể đại diện gắn liền với không gian diễn xướng và đời sống cộng đồng.

Về mặt lý thuyết chính sách công, nghiên cứu ứng dụng mô hình chu trình thực thi chính sách chuẩn hóa gồm 7 bước liên hoàn:

  1. Xây dựng kế hoạch triển khai (xác định mục tiêu, nguồn lực, nhân sự và quy chế điều hành).
  2. Phổ biến, tuyên truyền sâu rộng trong hệ thống chính trị và cộng đồng dân cư.
  3. Phân công, phối hợp giữa các cơ quan quản lý ngành và chính quyền địa phương.
  4. Duy trì chính sách thông qua các nguồn lực vật chất và sự ủng hộ của nhân dân.
  5. Điều chỉnh chính sách linh hoạt dựa trên diễn biến thực tiễn.
  6. Theo dõi, kiểm tra, đôn đốc tiến độ thực hiện.
  7. Đánh giá, tổng kết và rút kinh nghiệm toàn diện.

Hệ thống khái niệm nòng cốt được làm rõ gồm: bản sắc văn hóa, di sản văn hóa phi vật thể, văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên và quản lý nhà nước về di sản. Đồng thời, nghiên cứu xem xét 3 mô hình tổ chức thực thi chính sách gồm mô hình từ trên xuống, mô hình từ dưới lên và mô hình hỗn hợp nhằm tìm ra phương thức tối ưu cho địa bàn tỉnh Đắk Lắk.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp đồng bộ các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm đảm bảo độ tin cậy và tính khách quan cao nhất:

  1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu thứ cấp: Thu thập và tổng hợp các báo cáo thống kê, văn bản chỉ đạo, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk cùng hồ sơ quản lý từ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đắk Lắk, Phòng Văn hóa và Thông tin thành phố Buôn Ma Thuột và Phòng Văn hóa và Thông tin huyện Lắk xuyên suốt giai đoạn 2005 - 2020.
  2. Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành lấy mẫu có chủ đích với quy mô mẫu gồm 12 đối tượng nghiên cứu trọng điểm. Trong đó bao gồm 4 cán bộ lãnh đạo và chuyên viên phụ trách di sản tại các cơ quan quản lý văn hóa cấp thành phố và cấp huyện; 5 nghệ nhân dân gian người Ê-đê tại buôn Ea Bông (xã Cư Êbur, thành phố Buôn Ma Thuột); và 3 nghệ nhân dân gian người M'nông tại buôn Jiê Yuk (xã Đắk Phơi, huyện Lắk). Việc lựa chọn phương pháp phỏng vấn sâu giúp khai thác tường tận những trải nghiệm thực tế, tâm tư và đánh giá trực tiếp của các chủ thể văn hóa về hiệu quả của chính sách.
  3. Phương pháp quan sát không tham dự: Thực hiện quan sát trực tiếp các buổi sinh hoạt, truyền dạy đánh chiêng, không gian diễn xướng và các nghi lễ truyền thống tại địa bàn cơ sở.
  4. Phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp chuyên gia: Tham vấn ý kiến của các nhà nghiên cứu văn hóa Tây Nguyên để chuẩn hóa các luận điểm khoa học và phân tích dữ liệu biến động cồng chiêng trên địa bàn 15 huyện, thị xã, thành phố.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Nghiên cứu ghi nhận 4 phát hiện quan trọng phản ánh rõ nét bức tranh thực thi chính sách bảo tồn văn hóa cồng chiêng tại Đắk Lắk:

Thứ nhất, số lượng cồng chiêng có sự sụt giảm nghiêm trọng nhưng đã dần ổn định nhờ can thiệp chính sách. Toàn tỉnh Đắk Lắk có 4.675 bộ chiêng vào năm 1993, giảm còn 3.825 bộ năm 2003, tiếp tục xuống 3.375 bộ năm 2007 và ghi nhận 2.307 bộ chiêng đầy đủ vào cuối năm 2013 (giảm 50,65% so với năm 1993). Cơ cấu phân bổ cồng chiêng tập trung chủ yếu ở dân tộc Ê-đê với 2.064 bộ (chiếm 89,46%), dân tộc M'nông sở hữu 164 bộ (chiếm 7,11%), dân tộc Gia Rai có 62 bộ (chiếm 2,69%), số lượng còn lại thuộc về dân tộc Xơ Đăng (8 bộ) và Bru - Vân Kiều (9 bộ).

Thứ hai, nguồn nhân lực nắm giữ di sản rơi vào tình trạng báo động về độ tuổi và kỹ năng chuyên sâu. Toàn tỉnh có khoảng 3.855 người biết diễn tấu cồng chiêng và 554 đội chiêng truyền thống. Tuy nhiên, chỉ có 635 nghệ nhân có khả năng truyền dạy (chiếm 16,47% tổng số người biết đánh chiêng) và vỏn vẹn 393 nghệ nhân nắm giữ kỹ thuật chỉnh chiêng (chiếm 10,19%). Hầu hết các nghệ nhân chỉnh chiêng đều đã cao tuổi, tạo ra khoảng trống lớn về thế hệ kế cận.

Thứ ba, hiệu quả rõ rệt từ các đề án bảo tồn theo từng giai đoạn. Đề án giai đoạn 2007 - 2010 với kinh phí 6 tỷ đồng đã mua và cấp 150 bộ chiêng, hoàn thành trang bị cồng chiêng cho 100% trên tổng số 576 nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng buôn làng, đồng thời tổ chức 5 kỳ liên hoan cấp tỉnh và 15 cuộc liên hoan dân ca - dân vũ. Đề án giai đoạn 2012 - 2015 nâng tổng kinh phí lên gần 49 tỷ đồng (tăng hơn 700% so với giai đoạn trước), mở 4 lớp truyền dạy diễn tấu, 2 lớp dạy chỉnh chiêng và hỗ trợ trực tiếp kinh phí hoạt động cho 15 đội chiêng tiêu biểu. Đề án giai đoạn 2016 - 2020 tiếp tục giải ngân trên 10 tỷ đồng để trang bị trang phục truyền thống, cồng chiêng và tổ chức các chương trình biểu diễn định kỳ phục vụ nhân chúng.

Thứ tư, không gian văn hóa cồng chiêng bị thu hẹp đáng kể. Tỉnh hiện chỉ còn lưu giữ được 2.608 căn nhà dài truyền thống, 220 bến nước buôn làng, 155 nghi lễ truyền thống và ghi âm, thống kê được 139 bài chiêng cổ.

Thảo luận kết quả

Thực trạng biến động của di sản cồng chiêng bắt nguồn từ các nguyên nhân nội tại và ngoại cảnh phức tạp. Sự thâm nhập của kinh tế thị trường đã làm thay đổi thang đo giá trị, biến cồng chiêng từ một vật thiêng mang tính nghi lễ thành hàng hóa trao đổi thương mại, dẫn đến nạn "chảy máu cồng chiêng" trong thập niên 1990 và 2000. Quá trình đô thị hóa nhanh chóng và việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã phá vỡ không gian nương rẫy, rừng thiêng và bến nước. Bên cạnh đó, sự biến đổi tín ngưỡng khi một bộ phận đồng bào chuyển sang các tôn giáo mới làm cho các nghi lễ nông nghiệp và nghi lễ vòng đời người bị giản lược, khiến cồng chiêng mất đi môi trường diễn xướng nguyên bản.

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối tương quan chặt chẽ giữa nguồn lực đầu tư công và mức độ phục hồi di sản, vốn có thể được trực quan hóa thông qua biểu đồ hình cột so sánh kinh phí 3 giai đoạn đề án (6 tỷ đồng - 49 tỷ đồng - hơn 10 tỷ đồng) đặt cạnh biểu đồ đường thể hiện số lượng lớp truyền dạy và đội chiêng được thành lập mới. Sự chênh lệch lớn giữa tỷ lệ người biết diễn tấu (3.855 người) và nghệ nhân chỉnh chiêng (393 người) có thể minh họa qua bảng cơ cấu nhân lực văn hóa, chỉ rõ nguy cơ "đứt gãy kỹ năng" nếu không có cơ chế đãi ngộ khẩn cấp.

So với các công trình nghiên cứu trước đây của các học giả chuyên ngành, kết quả của luận văn khẳng định sự chuyển biến tích cực trong nhận thức của cộng đồng: chính sách không chỉ dừng lại ở việc hỗ trợ vật chất đơn thuần mà đã từng bước khơi dậy niềm tự hào dân tộc trong giới trẻ, biến di sản thành nguồn lực nội sinh phục vụ phát triển kinh tế - du lịch bền vững.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm nâng cao chất lượng thực thi chính sách bảo tồn di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên tại Đắk Lắk trong giai đoạn mới, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Hoàn thiện cơ chế đãi ngộ và tôn vinh nghệ nhân dân gian: Ủy ban nhân dân tỉnh Đắk Lắk phối hợp Sở Nội vụ và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng nghị quyết chuyên đề về chính sách trợ cấp sinh hoạt hàng tháng từ 1,5 đến 2,0 triệu đồng cho 393 nghệ nhân chỉnh chiêng và 635 nghệ nhân truyền dạy tiêu biểu. Đặt mục tiêu hoàn thành xét duyệt và chi trả chế độ hỗ trợ cho 100% nghệ nhân đủ điều kiện trong giai đoạn 2024 - 2026.

  2. Chuẩn hóa và mở rộng chương trình giáo dục di sản học đường: Sở Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp các địa phương đưa nội dung học đánh cồng chiêng và tìm hiểu 139 bài chiêng cổ vào chương trình ngoại khóa tại 100% trường phổ thông dân tộc nội trú trên địa bàn 15 huyện, thị xã, thành phố. Chỉ tiêu đặt ra là đào tạo tối thiểu 1.500 học sinh, thanh thiếu niên biết diễn tấu thành thạo các bài chiêng cơ bản trong lộ trình 3 năm.

  3. Khôi phục không gian diễn xướng và hỗ trợ thiết chế văn hóa cơ sở: Ủy ban nhân dân các huyện và thành phố bố trí nguồn vốn mục tiêu quốc gia bảo tồn nguyên trạng ít nhất 15 buôn văn hóa truyền thống mẫu mực (mỗi huyện chọn 1 buôn) gắn với 2.608 ngôi nhà dài và 220 bến nước hiện có; phục dựng định kỳ hàng năm từ 20 đến 30 nghi lễ nông nghiệp và nghi lễ vòng đời người trước năm 2026.

  4. Phát triển du lịch di sản bền vững gắn với sinh kế cộng đồng: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp Trung tâm Xúc tiến Du lịch và Hiệp hội Du lịch tỉnh xây dựng 5 sản phẩm tour du lịch trải nghiệm âm nhạc cồng chiêng định kỳ cuối tuần tại thành phố Buôn Ma Thuột và huyện Lắk. Trích tối thiểu 25% doanh thu từ hoạt động biểu diễn dịch vụ để tái đầu tư trực tiếp cho 554 đội chiêng buôn làng tham gia trình diễn.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Luận văn là tài liệu tham khảo khoa học có giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và cán bộ hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Phòng Văn hóa và Thông tin tại 15 đơn vị cấp huyện tỉnh Đắk Lắk sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để xây dựng, thẩm định các đề án bảo tồn giai đoạn tiếp theo với mức phân bổ ngân sách từ 10 đến 50 tỷ đồng.

  2. Giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành văn hóa: Các nhà nghiên cứu thuộc ngành Quản lý văn hóa, Văn hóa học, Nhân học và Chính sách công có thể khai thác khung lý thuyết 7 bước thực thi chính sách cùng bộ dữ liệu khảo sát thực địa chi tiết về 2.307 bộ cồng chiêng để làm tiền đề cho các công trình nghiên cứu mở rộng.

  3. Doanh nghiệp lữ hành và tổ chức phát triển du lịch: Các công ty du lịch, đơn vị quản lý điểm đến tham khảo cơ sở dữ liệu về 554 đội chiêng buôn làng và 155 nghi lễ truyền thống để thiết kế các tour du lịch văn hóa cộng đồng, mang lại trải nghiệm chân thực cho du khách trong và ngoài nước.

  4. Già làng, nghệ nhân và ban tự quản buôn làng dân tộc thiểu số: Đại diện các cộng đồng buôn làng nắm vững các chế độ, chính sách hỗ trợ hiện hành của Nhà nước để chủ động đề xuất trang bị cồng chiêng, mở lớp truyền dạy tại 576 nhà văn hóa cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

  1. Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm cồng chiêng tại Đắk Lắk giai đoạn 1993 - 2013 là gì? Nguyên nhân chủ yếu do tác động của kinh tế thị trường gây ra nạn mua bán, trao đổi cồng chiêng ("chảy máu cồng chiêng"), cùng với việc chuyển đổi tín ngưỡng tôn giáo làm mai một 155 nghi lễ truyền thống. Kết quả là số lượng cồng chiêng sụt giảm hơn 50,6%, từ 4.675 bộ xuống còn 2.307 bộ.

  2. Ngân sách nhà nước đầu tư cho các đề án bảo tồn cồng chiêng tại Đắk Lắk biến động ra sao? Kinh phí đầu tư tăng trưởng mạnh mẽ và có sự điều chỉnh theo từng giai đoạn: Đề án giai đoạn 2007 - 2010 được phân bổ 6 tỷ đồng, giai đoạn 2012 - 2015 tăng đột biến lên gần 49 tỷ đồng (gấp hơn 7 lần) và giai đoạn 2016 - 2020 duy trì mức ngân sách trên 10 tỷ đồng.

  3. Vì sao công tác bảo tồn cồng chiêng bắt buộc phải gắn với bảo tồn không gian buôn làng? Cồng chiêng Tây Nguyên là nhạc cụ thiêng chỉ phát huy đầy đủ giá trị nghệ thuật và tâm linh khi được diễn xướng trong không gian nguyên hợp gồm 2.608 căn nhà dài, 220 bến nước và các lễ hội vòng đời. Tách rời không gian này, tiếng chiêng sẽ mất đi chức năng kết nối con người với thần linh.

  4. Tỉnh Đắk Lắk đã đạt được thành tựu nổi bật nào trong việc trang bị cồng chiêng cho cơ sở? Thông qua đề án giai đoạn 2007 - 2010, tỉnh đã mua và cấp mới 150 bộ cồng chiêng cho các buôn vùng sâu, vùng xa, đồng thời hoàn thành việc trang bị cồng chiêng cho 100% trên tổng số 576 nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng buôn làng trên toàn tỉnh.

  5. Luận văn đã sử dụng phương pháp khảo sát thực địa như thế nào để đảm bảo tính xác thực? Tác giả đã phỏng vấn sâu 12 trường hợp cụ thể, bao gồm 4 cán bộ quản lý văn hóa cấp huyện, thành phố và 8 nghệ nhân dân gian tại buôn Ea Bông (thành phố Buôn Ma Thuột) và buôn Jiê Yuk (huyện Lắk), kết hợp quan sát thực tế tại các địa bàn diễn xướng cồng chiêng tiêu biểu.

Kết luận

  • Luận văn hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về chu trình 7 bước thực thi chính sách công áp dụng vào công tác bảo tồn di sản Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên.
  • Đánh giá chi tiết thực trạng biến động di sản qua các mốc số liệu lịch sử: từ 4.675 bộ (năm 1993) xuống 2.307 bộ cồng chiêng (cuối năm 2013), phân loại chi tiết theo từng tộc người bản địa.
  • Phân tích sâu sắc kết quả và hiệu quả giải ngân nguồn ngân sách nhà nước qua 3 giai đoạn đề án (6 tỷ đồng, gần 49 tỷ đồng và trên 10 tỷ đồng) trên phạm vi 15 đơn vị cấp huyện.
  • Đề xuất đồng bộ 4 nhóm giải pháp khả thi với các chỉ tiêu định lượng cụ thể: trợ cấp cho 393 nghệ nhân chỉnh chiêng, đưa di sản vào 100% trường phổ thông dân tộc nội trú và bảo tồn 15 buôn truyền thống tiêu biểu.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo học thuật chuẩn mực, tạo động lực thúc đẩy các cấp quản lý và cộng đồng tiếp tục giữ vững mạch nguồn di sản cồng chiêng Đắk Lắk trong lộ trình phát triển giai đoạn 2025 - 2030.