Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA TRUYỀN THỐNG CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm dân tộc Khái niệm dân tộc được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, trong đó có hai nghĩa được dùng phổ biến nhất: - Dân tộc theo nghĩa cộng đồng tộc người (ethnic, ethnie); Dân tộc theo nghĩa này là một cộng đồng người tương đối ổn định được hình thành phát triển với 4 đặc trưng cơ bản sau: là cộng đồng có chung một ngôn ngữ (tiếng nói); có chung một lịch sử nguồn gốc; có các đặc điểm chung về bản sắc văn hóa; cùng tự nhận mình là dân tộc đó (ý thức tự giác chung về dân tộc). Ví dụ, Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa tộc người, gồm 54 tộc người, ngoài tộc người Kinh chiếm đa số về dân số, còn có 53 tộc người thiểu số khác.
- Dân tộc (nation) đồng nghĩa với quốc gia - dân tộc hay dân tộc - quốc gia: Theo nghĩa này dân tộc là cộng đồng người thống nhất, có chung một nhà nước, một lãnh thổ, một nền kinh tế, một chế độ chính trị - xã hội, có ngôn ngữ và văn hóa chung, thống nhất. Sự hình thành các dân tộc - quốc gia gắn liền với sự ra đời của nhà nước, đó là nhà nước dân tộc, nhà nước có thể chỉ có một cộng đồng hoặc nhiều thành phần dân tộc hợp thành. Như vậy, khái niệm dân tộc được hiểu theo hai bình diện, dân tộc là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cư dân của một quốc gia. Thực chất hai vấn đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết, hữu cơ với nhau.
Khi nói đến dân tộc Việt Nam không thể không nói đến 54 dân tộc 8 (tộc người) đang sinh sống ở nước ta hoặc ngược lại, khi nói đến các dân tộc ở Việt Nam không thể không nói đến cộng đồng dân tộc Việt Nam. Khái niệm văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con người. Theo Từ điển tiếng Việt: “Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [2, tr. Theo Giáo sư Trần Quốc Vượng: Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay của một nhóm xã hội.
Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của (tồn tại - being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng. Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét (Reflect-phản tư) về bản thân [19, tr. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã định nghĩa về văn hóa như sau: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.
Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” [10]. Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, văn hóa được hiểu bao hàm toàn bộ những sản phẩm vật chất và tinh thần được sáng tạo ra bởi con người, nhằm đáp ứng đòi hỏi của sự sinh tồn và mục đích cuộc sống của con người - được sống xứng đáng với danh hiệu và vị thế của con người. 9 Trong tiến trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng ta xác định văn hoá - tư tưởng là một cuộc cách mạng, tiến hành đồng thời gắn bó chặt chẽ với cách mạng quan hệ sản xuất và cách mạng khoa học kỹ thuật. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 và bổ sung, phát triển năm 2011 đều xác định nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là một trong những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Như vậy, văn hóa được hiểu là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và giá trị của nhân dân một nước, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Văn hóa là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động. Khái niệm giá trị văn hóa truyền thống Trong quá trình hình thành và phát triển mình, mỗi dân tộc đều sáng tạo ra nền văn hóa, trong đó có các giá trị văn hóa. Các giá trị văn hóa này được lưu truyền trong xã hội qua các thời kỳ lịch sử và trở thành các giá trị văn hóa truyền thống.
Giá trị văn hóa truyền thống chính là những tư tưởng, biểu tượng, giá trị và chuẩn mực xã hội hóa, những tác phẩm văn hóa được cộng đồng tin tưởng và mong muốn gìn giữ, truyền đạt và noi theo. Nói đến những giá trị văn hóa truyền thống là nói đến những giá trị tốt đẹp, tiêu biểu cho một nền văn hóa được chắt lọc, lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Do đó, nói đến những giá trị văn hóa truyền thống cũng là nói đến những giá trị văn hóa được hình thành và phát triển trong quá trình dựng nước và giữ nước của mỗi dân tộc, nó có tính “di truyền xã hội”. Giá trị văn hóa truyền thống dân tộc không phải là cái có sẵn từ khi dân tộc hình thành mà nó được các thế hệ nối tiếp nhau làm nên.
Các giá trị này biến đổi tùy điều kiện tác động đến nó. Nhưng nếu giá trị văn hóa truyền thống 10 biến đổi cơ bản về chất thì nó sẽ không còn là truyền thống. Nói đến giá trị văn hóa là nói đến là nói đến cái lâu dài, trải qua nhiều thời gian thử thách mà cốt lõi bản chất của nó luôn được giữ vững. Giá trị văn hóa truyền thống là những giá trị ổn định, tốt đẹp, tiêu biểu cho dân tộc, tạo nên bản sắc cho dân tộc đó.
Chính vì thế, giá trị văn hóa truyền thống luôn có tính bền vững, trở thành những nguyên lý đạo đức lớn để dân tộc đó phải dựa vào để liên kết xã hội, tạo nên sức mạnh nhằm bảo vệ và xây dựng đất nước vì sự tiến bộ của con người và xã hội. Khái niệm bảo tồn, phát huy Trong công trình Di sản văn hóa Việt Nam - bản sắc và những vấn đề về quản lý và bảo tồn, tác giả Nguyễn Thịnh cho rằng: “Bảo tồn là những nỗ lực nhằm tìm hiểu và nhận rõ được giá trị và ý nghĩa của di sản, đảm bảo gìn giữ các vật liệu gốc, có thể cải tạo và nâng cấp cần thiết”. Tác giả Nguyễn Như Ý trong cuốn Đại từ điển Tiếng Việt cũng cho rằng: Bảo tồn là “ giữ nguyên hiện trạng, không để mất đi: Bảo tồn di tích lịch sử; bảo tồn nền văn hóa dân tộc”. Hay nói một cách ngắn gọn như tác giả Đào Duy Anh trong quyển Từ điển Hán Việt thì bảo tồn là “giữ gìn lại” [1, tr.
Theo từ điển tiếng Việt, “bảo tồn” có nghĩa là giữ lại không để cho nó mất đi, còn “phát huy” là làm cho cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm [21, tr. Bảo tồn văn hóa có hai đối tượng để bảo tồn: giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể. Bảo tồn tức là các hành động nhằm bảo vệ, gìn giữ, bảo lưu lại sự tồn tại của các sự vật, hiện tượng, gìn giữ chúng để tồn tại cùng với thời gian. Bảo tồn các sự vật, hiện tượng là lưu giữ, không làm cho chúng bị mai một, bị thay đổi và biến dạng.
Cũng theo Từ điển tiếng Việt, phát huy là “làm cho cái hay, cái tốt tỏa 11 tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm” [21, tr. Phát huy là hành động nhằm đưa văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, coi đó như nguồn nội lực, các tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, thể hiện mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội. Phát huy có nghĩa là cái hay, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở thêm. Cũng còn có ý nghĩa là những hành động nhằm đưa di sản văn hóa vào trong thực tiễn xã hội, phát triển theo chiều hướng tiến bộ, mang lại những lợi ích vật chất và tinh thần cho con người, là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với sự phát triển xã hội.
Có thể nhận xét rằng, giữa bảo tồn và phát huy luôn có sự tương trợ lẫn nhau và là hai mặt của hoạt động. Thông thường bảo tồn đi kèm với khai thác, phát huy giá trị của văn hóa, đặc biệt là các giá trị văn hóa truyền thống trong đời sống xã hội. Phát huy có nghĩa là đưa các giá trị di sản để đưa giá trị văn hóa đến cộng đồng, tạo mọi điều kiện để cộng đồng phát triển mạnh mẽ hơn nữa trên tất cả các mặt kinh tế - xã hội. Nhờ đó, thực hiện tốt hơn công tác bảo tồn di sản văn hóa.
Để đảm bảo sự phát triển bền vững thì quan trọng nhất là giữa bảo tồn và phát huy cần tạo ra sự cân bằng hợp lý. Khái niệm thực hiện chính sách bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số Tại Điều 13 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc, chính sách bảo tồn và phát triển văn hóa được quy định như sau: - Hỗ trợ việc sưu tầm, nghiên cứu, bảo vệ, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số trong cộng đồng dân tộc Việt Nam. - Hỗ trợ việc giữ gìn và phát triển chữ viết của các dân tộc có chữ viết. 12 Các dân tộc thiểu số có trách nhiệm gìn giữ văn hóa truyền thống tốt đẹp, tiếng nói, chữ viết của dân tộc mình phù hợp với quy định của pháp luật.