Chương I Luật Di sản Văn hóa Việt Nam được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Khoản 2, Điều 4 Luật Di sản Văn hóa hiện hành đã qui định: “Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử văn hóa, khoa học bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh (sau đây viết tắt là di tích) di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”. Theo Luật Di sản đã nêu trên có thể hiểu di tích và di tích lịch sử - văn hóa như sau: Di tích là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học (Khoản 3, Điều 4 Luật di sản văn hóa hiện hành). 11 Căn cứ theo quy định tại khoản 1, Điều 28 Luật Di sản văn hóa hiện hành, việc xét duyệt công nhận, xếp hạng di tích ở Việt Nam dựa vào những tiêu chí sau: a) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử, văn hóa tiêu biểu của quốc gia hoặc của địa phương.
b) Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiẹp của anh hùng dân tộc, danh nhân, nhân vật lịch sử có ảnh hưởng tích cực đen sự phat triển của quốc gia hoặc của địa phương trong các thời kỳ lịch sử. c) Địa điểm khảo cổ có giá trị tiêu biểu. đ) Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc nghệ thuật. Theo tính chất lãnh thổ và giá trị, Điều 29 Luật di sản Văn hóa hiện hành quy định di tích ở nước ta được phân thành 3 loại sau: Di tích cấp tỉnh là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương.
Di tích quốc gia là di tích có giá trị tiêu biểu của Quốc gia. Di tích quốc gia đặc biệt là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của Quốc gia. Di tích lịch sử - văn hóa là một thành tố quan trọng cấu thành di sản văn hóa. Vấn đề này được khẳng định trong nhiều văn bản pháp lý của Nhà nước Điều 1, Pháp lệnh số 14-LCT/HĐNN của Hội đồng nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 04/4/1984 về Bảo vệ di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh, trong đó di tích lịch sử văn hóa được quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là những công trình xây dựng, địa điểm, đồ vật, tài liệu và tác phẩm có giá trị lịch sử, khoa học, nghệ thuật cũng như có giá trị về văn hóa khác hoặc có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội” [32, tr.
12 Tại Điểm 3, Điều 4, Luật di sản văn hóa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1 ngày 29/6/2001 quy định: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [34, tr. Một số quan điểm về bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử - văn hóa 1. Quan điểm về bảo tồn Quan điểm của Đảng và Nhà nước nêu rõ tại Luật Di sản 2001, tại Điều 9, Điều 10 và Điều 11; Tại Điều 9, Điểm 1 nêu rõ: Nhà nước có chính sách bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa nhằm nâng cao đời sống tinh thần của nhân dân góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước; khuyến khích tổ chức cá nhân trong nước và nước ngoài đóng góp, tài trợ cho việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tại Điều 9, Điểm 2 nêu rõ: Nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu di sản văn hóa. Chủ sở hữu di sản văn hóa có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tại Điều 9, Điểm 3 nêu rõ: Nhà nước đầu tư cho công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ trong việc bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tại Điều 10 Luật Di sản nêu rõ: Cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ trang nhân dân (sau đây gọi là tổ chức) và cá nhân có trách nhiệm bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa; Tại Điều 11 Luật Di sản nêu rõ: Các cơ quan văn hóa, thông tin đại chúng có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến rộng rãi ở trong nước và nước ngoài các giá trị di sản văn hóa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, góp 13 phần nâng cao ý thức bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa trong Nhân dân.TS Nguyễn Quốc Hùng: Ngày nay, để bảo tồn và phát huy giá trị di sản, không thể và không chỉ dừng lại ở công tác quản lý hành chính đơn thuần, hoặc dựa vào kinh nghiệm dân gian, mà phải cần đi sâu nghiên cứu khoa học, tiếp cận với các kiến thức do UNESCO và các tổ chức khoa học bảo tồn trong khu vực ASEAN cũng như trên thế giới đề ra.
Việc lập dự án đầu tư có liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến di tích lịch sử cần phải đảm bảo sao cho có thể giữ gìn tốt nhất những giá trị tiêu biểu của di tích lịch sử đảm bảo tính toàn vẹn và sự xác thực của di tích lịch sử. Những yêu cầu đó có vẻ rất dễ dàng song trên thực tế không phải là điều đơn giản. Những phương pháp bảo tồn, bảo quản, bảo trì, gia cố, sửa chữa. Di tích dù là hư hỏng nhỏ cũng phải được thực hiện một cách bài bản, khoa học [20, tr.
42] Muốn bảo đảm tính khoa học trong việc giữ gìn di tích, chúng ta còn cần phải tính đến những biện pháp bảo vệ môi trường, cảnh quan di tích, ngăn ngừa sự tác động của quá trình phát triển, cần phải lựa chọn mô hình bảo tồn thích hợp để làm cho di tích lịch sử - văn hóa phát huy giá trị theo chiều hướng phát triển tốt nhất sinh động hơn và không “đóng băng” chúng trong thời kinh tế thị trường. Thực tế bảo tồn di tích lịch sử ở nhiều nước trên thế giới đã hình thành 3 quan điểm và tương ứng với nó là 3 mô hình bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa sau: Thứ nhất, Bảo tồn ngnyên trạng: Đây là quan điểm dựa trên quan điểm bảo tôn văn hóa vật thê của các nhà bảo tàng hoc. Quan điểm này cho rằng, các sản phẩm của quá khứ cần được bảo tồn nguyên dạng như nó vốn có. 14 Ưu điểm của mô hình là cho ta cái nhìn chân thực về hiện tượng, không bị thiên lệch, thay đổi do nhãn quan lịch sử đem lại.
Thích họp cho việc bảo tồn di sản văn hóa vật thể. Hạn chế của nó là khiến cho di tích lịch sử - văn hóa ít mang “hơi thở” của thời đại, dẫn đến khó khăn trong quảng bá rộng rãi giá trị di tích lịch sử - văn hóa tới công chúng. Ví dụ: Đối với lễ hội truyền thống - một loại hình văn hóa phi vật thể, thì việc xác định đâu là yếu tố nguyên gốc sẽ gặp phải khó khăn. Một mặt những thay đổi lịch sử tác động đến sự biến đổi về chức năng của các lễ hội dẫn đến biến đổi cấu trúc lễ hội, mặt khác, bất cứ một lễ hội nào cũng tự tích hợp những yếu tố văn hóa của thời đại hoặc ngoại lai để thích nghi với từng thời đại.
Điều quan trọng hơn là: Bản chất của truyền thống nói chung và lễ hội nói riêng là sự lựa chọn và sáng tạo của từng cộng đồng trong những mốc thời gian nhất định. Thứ hai, Bảo tồn trên cơ sở kế thừa: Quan điểm này thừa nhận sự biến đổi của di sản cho rằng di sản văn hóa có nhiệm vụ lịch sử ở những không gian và thời gian cụ thể, những mặt tích cực của chúng phải được phát huy cho phù họp với nhu cầu thời đại, ngược lại những mặt tiêu cực phải được loại bỏ. Ưu điểm của mô hình là làm tăng sự phong phú, đa dạng của những giá trị văn hóa truyền thống. Hạn chế của nó là khiến cho công chúng khó có cái nhìn chân thực về hình thức, nội dung và giá trị đích thực của một nền văn hóa mà các di tích lịch sử hàm chứa.
Ví dụ: Di tích lịch sử - văn hóa luôn là một thực tế hữu cơ không thể chia cắt thành những yếu tố tích cực/tiêu cực; tiến bộ/lạc hậu; tốt/xấu.Vì thế, khi chúng bị chia cắt một cách siêu hình thì lập tức bị biến dạng và tiêu vong. 15 Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, với quan điểm bảo tồn này nhiều lễ hội chỉ còn lại phần “hội”, nhiều hình thái văn hóa gắn với tín ngưỡng cổ xưa, nhiều diễn xướng dân gian có giá trị bị coi là dị đoan (như múa bóng rỗi) và bị cấm thực hành. Rõ ràng, bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa theo quan điểm này sẽ dẫn đến một hệ quả tất yếu là nhiều hình thái văn hóa cổ truyền dưới con mắt của người đương thời khi không còn phù hợp sẽ bị gỡ bỏ và di tích lịch sử - văn hóa sẽ không còn toàn vẹn nữa. Thứ ba, Bảo tồn để phát triển: Là những cách thức và biện pháp khác nhau nhằm mục đích bảo vệ sự tồn tại và tạo ra những hình thái mới của một sự vật, hiện tượng đó.
Bảo tồn phát triển là sự kế thừa những cái đã có để phát triển, nâng nó lên tầm cao mới cho phù họp, đáp ứng những yêu cầu của hiện tại hay những dự kiến cho tương lai. Ưu điểm của mô hình là mang đến cho công chúng sắc thái văn hóa mới trên nền tảng căn bản của di tích lịch sử - văn hóa thuộc về quá khứ, góp phần giúp cho di tích lịch sử - văn hóa tăng về định tính và định lượng. Thể hiện ở những điểm sau: Về mục đích: Đa mục đích, và mục đích được coi là chủ đạo là do cộng đồng lựa chọn, không có mục đích nào được xem là tối thượng cả (các nhà khoa học hay nhà quàn lý không thể thay thế cộng đồng trong việc lựa chọn mục đích hay giá trị).