Chương 1 TỔNG QUAN VỀ CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tình trạng bảo tồn và các đặc điểm sinh học, sinh thái của các loài gấu ở Việt Nam Về mặt phân loại học, họ Gấu (Ursidae) có 8 loài, thuộc 5 giống. Họ Gấu thuộc bộ Ăn thịt (Carnivora) và lớp Thú (Mammalia) [36]. Ở Việt Nam, có 2 loài gấu cư trú là Gấu ngựa (Ursus thibetanus) và Gấu chó (Ursus malayanus) [19],[38].
Gấu ngựa - Ursus thibetanus (Cuvier, 1823) • Tình trạng bảo tồn Do việc săn bắt quá mức cùng với tình trạng mất và suy thoái sinh cảnh sống mà gấu ngựa đã bị tuyệt chủng ở Bắc Hàn Quốc, Nam Hàn Quốc và đang có nguy cơ tuyệt chủng ở các nước chúng còn sống sót (Pakixtan, Iran, Đài Loan Trung Quốc, Nhật Bản, và Việt Nam,…)[33]. Trên thế giới gấu ngựa được xếp ở cấp VU - Sẽ nguy cấp (Danh lục Đỏ IUCN 2008)[34] và thuộc Phụ lục I công ước CITES (nghiêm cấm buôn bán quốc tế)[28]. Ở Việt Nam, gấu ngựa bị đe doạ ở cấp cao hơn: cấp EN - Nguy cấp (Sách Đỏ Việt Nam 2007)[2] và được bảo vệ bởi pháp luật ở mức cao nhất: nhóm IB (nghiêm cấm khai thác sử dụng vì mục đích thương mại) của Nghị định 32/2006/NĐ-CP[12]. • Phân bố Trên thế giới gấu ngựa có phân bố từ Apganixtan dọc theo phía Bắc của Pakixtan qua phía Bắc của Ấn Độ, tới Trung Quốc và Đông Nam Á.
Ở Việt Nam, gấu ngựa gặp ở các tỉnh miền núi từ phía Bắc xuống đến Bình Phước và Đồng Nai. c • Đặc điểm hình thái Gấu ngựa to lớn, nặng 80 -180 kg (trong nuôi nhốt có thể 200 kg). Gấu ngựa có dáng thân thô béo, trán rộng, tai tròn. Chân trước và chân sau có 5 ngón; vuốt khoẻ nhọn và cong; đi bằng bàn; bàn chân sau dài có gót gần giống dấu bàn chân người.
Bộ lông dài thô mầu đen tuyền, lông hai bên cổ dài tạo thành bờm. Ngực có yếm hình chữ V mầu vàng nhạt hoặc trắng bẩn (Hình 1. Đuôi rất ngắn, không thò ra khỏi bộ lông. Sọ gấu ngựa chắc khoẻ và dài, chiều rộng của sọ xấp xỉ bằng 2/3 chiều dài.
Xương hộp sọ, xương trán và xương mặt tròn đều, không có gờ đỉnh đầu, hộp sọ đỉnh đầu phình rộng và nhỏ dần từ gáy ra phía mặt. Răng nanh lớn thon đều; răng hàm cuối cùng lớn nhất, nhỏ dần đến các răng trước hàm; răng trước hàm nhỏ có thể mất ở tuổi già. Răng ăn thịt ít phát triển. Bầu nhĩ dẹp.
Kích thước (cm): HB = 120 -170; T = 6 -10; HF = 17-19; E = 11-13; W: 80-180kg [19].1: Gấu ngựa (Ursus thibetanus)(Ảnh: AAF) • Đặc điểm sinh học, sinh thái Sinh cảnh sống Theo Lê Hiền Hào (1973)[18], gấu ngựa sống ở nhiều loại rừng khác nhau như rừng trên núi đá, rừng già trên núi đất, rừng gỗ pha tre nứa, đôi khi c cả các mảnh rừng sót ở hẻm núi hoặc ven sông. Tuy nhiên, nơi sống thích hợp nhất đối với gấu ngựa là các khu rừng hỗn giao cây to núi đất nhưng phân bố xen kẽ với các khối đá vôi. Gấu ngựa thường sống trong các hang hốc tự nhiên trên sườn núi đá vôi, nơi khó đi lại. Vào mùa rét gấu còn sử dụng cả các bọng cây to để trú ẩn.
Tập tính leo trèo Gấu hoạt động vừa ở trên cây vừa dưới mặt đất. Khả năng leo trèo của gấu rất tốt nhờ có chi tương đối dài và khoẻ, vuốt lớn cong và sắc. Đối với cây to gấu thường trèo theo đường xoáy trôn ốc, còn đối với cây nhỏ thì gấu trèo theo đường thẳng đứng. Khi từ trên cây muốn xuống đất, gấu ôm chặt lấy thân cây nhưng phần sau cơ thể xuống trước và tụt dần cho đến lúc còn cách mặt đất 2-3m, gấu liền buông thõng hai chi trước đồng thời quay đầu lại và nhảy chồm xuống đất.
Trong trường hợp gặp nguy hiểm bất thình lình gấu có khả năng nhảy từ trên cành cây cao xuống mặt đất với khoảng cách 10-15m và tiếp tục chạy ngay được. Gấu non ở tuổi bắt đầu đi theo mẹ, hình như chưa có khả năng trèo cây. Trong lúc gấu mẹ kiếm ăn trên cây, chúng thướng đứng chờ hoặc chạy quanh gốc cây dưới mặt đất. Tập tính ăn Gấu ngựa hoạt động kiếm ăn cả ban ngày lẫn ban đêm, tuỳ lúc và tuỳ nơi như ở những khu rừng vắng thì gấu kiếm ăn vào buổi sáng còn trên nương rẫy ở ven rừng gấu đi ăn chủ yếu vào ban đêm.
Khứu giác và thính giác của gấu ngựa đặc biệt phát triển so với thị giác. Đây là những cơ quan có vai trò đặc biệt trong việc phát hiện các nguồn thức ăn và cả kẻ thù. Gấu ngựa là loài thú ăn rộng, bao gồm cả thực vật lẫn động vật. Theo các nghiên cứu (Lê Hiền Hào, 1973[18]; Đặng Ngọc Cần và cs.
Khi phát hiện được quả chín, gấu trèo lên cây ngồi một chỗ ở cành cây lớn và dùng các chi trước vít bẻ cành bé ở xung quanh về phía mình, để hái quả ăn tại chỗ. Nếu gặp cành lớn và cứng quá thì gấu rung lắc mạnh cho quả rơi rụng, rồi tụt xuống đất thu nhặt thức ăn. Ngoài các loại quả trên vào những lúc quả rừng khan hiếm, gấu còn ăn thêm những bộ phận khác của thực vật như các loại rễ củ, mà thường gặp nhất là củ mài (Dioscorea), các cây thuộc họ ráy (Araceae), sa nhân (Alpinia),.Nõn một số cây như: Móc, mò, song mây, hèo, bống báng,.và măng tre nứa. Bên cạnh những đối tượng thức ăn là thực vật hoang dại, gấu còn thích ăn một số sản phẩm cây trồng như: Rau quả, mía, đôi khi cả lúa., và phổ biến nhất là ngô bắp.
Mặc dù gấu ngựa là thú ăn thịt, nhưng ít ăn động vật hơn nhiều so với thực vật. Thức ăn động vật thường gặp ở gấu là côn trùng, chủ yếu là kiến, trứng kiến, ấu trùng ong và đặc biệt là mật ong. Những thức ăn là động vật khác ít gặp hơn đó là cua, ốc, đôi khi cả tôm, cá, ngóe, rùa và các ổ chim, sóc non. Ngoài ra, gấu ngựa còn có thể ăn cả xác chết động vật.
Tập tính tự vệ Gấu ngựa là con vật ưa sống trầm lặng và thận trọng. Bình thường trong lúc hoạt động gấu không phát ra tiếng kêu dù là rất nhỏ. Khi gặp nguy hiểm nó tìm cách chạy trốn là chủ yếu. Khi gặp trường hợp nguy hiểm bất ngờ hoặc bị thương nặng vì trúng đạn gấu ngựa rống lên thành tiếng lớn " hộc." và cũng trong trường hợp này gấu ngựa mới trở lên hung dữ khác thường và có thể tấn công quyết liệt cả người nhất là gấu cái đang nuôi con.
c Sinh sản Gấu ngựa động dục vào mùa hạ và đẻ con vào mùa xuân. Thời gian mang thai khoảng 6-7 tháng. Mỗi lứa gấu ngựa thường đẻ 2 con, ít khi 1 hoặc 3 con. Sau 1 tháng, gấu con mở mắt và bú sữa mẹ trong khoảng 3 tháng rưỡi hoặc nửa năm, lúc 2-3 tháng tuổi gấu con có thể đi theo mẹ.
Gấu ngựa trưởng thành vào 3 năm tuổi, có thể sinh sản được ở 6 năm tuổi. Tuổi thọ của gấu ngựa trong điều kiện nuôi tới 33 năm [36]. Gấu chó - Ursus malayanus (Raffles, 1821) • Tình trạng bảo tồn Tình trạng bảo tồn của gấu chó cũng tương tự gấu ngựa. Trên thế giới gấu chó bị đe doạ diệt vong cấp VU - Sẽ nguy cấp (Danh lục Đỏ IUCN 2008) [34] và thuộc Phụ lục I công ước CITES[28].
Ở Việt Nam, gấu ngựa bị đe doạ ở cấp EN - Nguy cấp (Sách Đỏ Việt Nam 2007)[2] và được bảo vệ bởi pháp luật ở mức cao nhất: Nhóm IB của Nghị định 32/2006/NĐ-CP[12]. • Phân bố Trên thế giới gấu chó có ở Burma, Thái Lan, Malaysia, Burneo, Sumatra và Đông Dương. Ở nước ta, gấu chó đã gặp ở vùng rừng từ Tây Bắc đến tỉnh các Đồng Nai và Tây Ninh. • Đặc điểm hình thái Gấu chó là loài thú cỡ lớn, nặng khoảng 50 – 100 kg có thân hình béo tròn, trán rộng, tai tròn không vểnh cao như gấu ngựa.
Chân trước và chân sau năm ngón, vuốt nhọn, cong khoẻ, chân trước đi vòng kiềng, đi bằng bàn. Dấu bàn chân sau có gót dài giống bàn chân trẻ em. Bộ lông màu đen tuyền ngắn và tương đối mịn đều, không thô như gấu ngựa, ở mõm sáng vàng. Lông cổ ngắn không tạo bờm có xoáy ở bả vai.
Yếm ngực hình chữ “U” màu vàng nhạt, có trường hợp yếm ngực bị ngắt quãng, không thành hình chữ U rõ rệt. Đuôi rất ngắn không nhô ra khỏi bộ lông (Hình 1. Sọ gấu chó chắc nịch, c rộng và ngắn, gần giống dáng sọ hổ, báo; cung gò má rộng; chiều rộng sọ gần bằng chiều dài sọ. Răng nanh lớn dài; răng ăn thịt ít phát triển; mặt răng bằng, gờ nhai không phát triển.
Răng trước hàm Pm 1,2,3 nhỏ, có thể mất ở tuổi già. Bầu nhĩ dẹp. Kích thước (cm): HB =113; T=8,9; E =7,1 [40].2: Gấu chó (Ursus thibetanus)(Ảnh AAF) Đặc điểm sinh học, sinh thái Sinh cảnh sống Gấu chó sống ở rừng thường xanh, rừng đầu nguồn, rừng khộp, chủ yếu ở những khu rừng lớn, đặc biệt là rừng trên núi đá vôi. Tập tính vận động và ngủ nghỉ Gấu chó leo trèo, bơi lội giỏi và rất thích tắm nước.
Hoạt động chủ yếu về ban đêm, nhưng cũng hoạt động cả ban ngày ở những nơi vắng vẻ. Gấu chó không có tổ cố định mà thường ngủ, nghỉ ở những nơi có nhiều cây phân cành thấp, chúng dùng tay kéo cành, lá che lót rồi nằm dài theo cành cây, đầu c gối lên chạc cây, 4 chân buông thõng xuống. Gấu chó cũng thường đứng thẳng trên 2 chân sau để quan sát hoặc khi gặp kẻ thù. Tập tính ăn Tập tính ăn uống của gấu chó tương tự gấu ngựa, nhưng tỷ lệ côn trùng, đặc biệt là ong, mối và giun đất cao hơn đáng kể [36].
Trong tự nhiên chúng chủ yếu ăn thực vật như hạt dẻ, quả sung, vả, quả cọ, chuối, ngô, măng tre nứa. Chúng cũng ăn cá, mật ong, trứng chim và thịt động vật khác nếu có điều kiện. Trong nuôi nhốt gấu chó có thể sử dụng nhiều loại thức ăn của người. Sinh sản Gấu chó sống độc thân (Lekagul et al., 1988 thông báo gấu chó thường hay đi đôi), chỉ ghép đôi trong mùa động dục hoặc nuôi con.
Gấu chó có thể sinh sản quanh năm, gấu đẻ mỗi năm 1 lứa, 2 - 4 con, thường 2 con. Thời gian mang thai khoảng 95-96 ngày. Gấu con mới sinh chưa mở mắt và không có lông. Gấu con sống với mẹ 1,5 -2 năm cho đến khi gần trưởng thành sinh dục.
Tuổi thọ trong nuôi nhốt là 20 năm [36].