Chương 1 NHUNG VAN ĐÈ LÝ LUẬN VE BAO DAM THỰC HIỆN NGHĨA VU DAN SU BANG TIEN GUI TẠI NGAN HANG 1. Khái quát chung về bảo đảm thực hiện nghĩa vu dân sự 1. Khái niệm bao đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận giữa các bên nhằm đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng, dé bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự đã xác lập, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc vi phạm nghĩa vụ dân sự được bảo đảm gây ra. Trong trường hợp người có nghĩa vu dân sự không thực hiên, thực hiện không đúng, không đầy đủ, người có quyền có thé áp dụng BPBD đã xác lập dé buộc bên bảo đảm (có thé là chính bên có nghĩa vụ hoặc bên thứ ba) phải thực hiện đúng nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết.
Trong một quan hệ nghĩa vụ, người có quyền được chủ động yêu cầu người có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ và chỉ khi nào công việc đó được thực hiện đúng thì người có quyền mới thoả mãn được lợi ích của mình. Nếu người có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì về mặt pháp lý bên có quyền có thể tự mình áp dụng hành vi phù hợp hoặc yêu cầu cơ quan có thâm quyền áp dụng biện pháp cưỡng chế, buộc bên vi phạm phải thực hiện nghĩa vụ. Tuy nhiên, nhiều khi vẫn không bảo đảm được quyền lợi của người có quyền nếu người vi phạm nghĩa vụ không có khả năng tài sản để thực hiện nghĩa vụ. Nhằm khắc phục tình trạng trên và tạo cho nguoi có quyền trong các quan hệ nghĩa vụ có được thế chủ động trong thực tế hưởng quyền dân sự, pháp luật cho phép các bên có thê thoả thuận đặt ra các BPBĐ.
Qua đó, người có quyền có thé chủ động tiến hành các hành vi của mình để tác động trực tiếp đến TSBĐ hoặc yêu cầu bên bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ nhằm thoả mãn quyền lợi của mình như một sự thay thé. BPBD là công cụ hữu hiệu nhằm ngăn ngừa hành vi vi phạm của bên có nghĩa vụ, vừa bao đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của bên có quyên, theo đó một bên sử dụng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình hoặc sử dụng uy tín của mình (gọi là bên bảo đảm) dé bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình hoặc của chủ thê khác (gọi là bên được bảo đảm). Theo Hướng dẫn của UNCITRAL thì giao dich bao dam là giao dịch xác lập lợi ich bảo đảm, trong đó lợi ích bảo đảm là một lợi ích tài sản gắn với một tài sản nhất định nhằm bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ nhất định. Theo pháp luật của Mỹ thì giao dịch bảo đảm cũng là giao dịch xác lập lợi ích bảo đảm.
Như vậy, một cách chung nhất, về mặt khách quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được hiểu là sự quy định của pháp luật về các biện pháp dé bảo đảm cho một nghĩa vụ chính được thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyên, nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó. Về mặt chủ quan, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ được hiểu là việc thoả thuận giữa các bên về việc lựa chọn sử dụng biện pháp để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ dân sự với tính chất tác động, dự phòng, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ gây ra. Về bản chất pháp lí, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là một loại công cụ trong nghĩa vụ dân sự, khi có sự vi phạm nghĩa vụ các bên có thể tự áp dụng hoặc yêu cầu cơ quan có thâm quyền áp dụng dé bảo đảm quyên lợi cho bên có quyền. Đặc điểm chung của biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Thứ nhất, các BPBĐ mang tính chất “bổ sung” cho nghĩa vụ chính.
Các BPBD thực hiện nghĩa vụ không tồn tại độc lập mà luôn gắn liền với một nghĩa vụ nao đó, các bên cùng nhau thiết lập một BPBĐ nhằm mục đích cho việc thực hiện một nghĩa vụ chính. Nội dung, hiệu lực của BPBD phù hợp va phụ thuộc vào nghĩa vụ chính. Thứ hai, các BPBĐ đều có mục đích nâng cao trách nhiệm và năng lực thực hiện nghĩa vụ. Khi đặt ra BPBĐ, các bên hướng tới mục đích nâng cao trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của người có nghĩa vụ, hạn chế rủi ro đạo đức (có điều kiện nhưng van không thực hiện), cũng như nâng cao nang lực thực hiện (không có điều kiện thực hiện nghĩa vụ chính theo dự kiến, phải thực hiện bằng biện pháp khác thay thê).
Thứ ba, đôi tượng của các BPBĐ là những lợi ích vật chất, trị giá được băng tiền. Lợi ích vật chất là đối tượng của các BPBĐ, là một tài sản (vật hữu hình, tiền, giấy tờ trị giá được bằng tiền, quyền tai sản, quyền sở hữu trí tuệ. Thứ tư, phạm vi bao đảm của các BPBD không vượt quá phạm vi nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của quan hệ nghĩa vụ chính. Phạm vi của bảo đảm không lớn hơn phạm vi của nghĩa vụ dù trong thực tế bên bảo đảm đưa một tai sản có giá tri lớn hon nhiều lần giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm, khi đó mục đích của việc bảo đảm đó cũng chỉ là dé thực hiện nghĩa vụ trong phạm vi nghĩa vụ được bảo đảm đã xác định.
Thứ năm, các BPBĐ chỉ được ap dụng khi có sự vi phạm nghĩa vụ. Cho dù các bên đã đặt ra một BPBĐ bên cạnh một nghĩa vụ chính nhưng vẫn không cần phải áp dụng BPBĐ đó nếu nghĩa vụ chính đã được thực hiện một cách đầy đủ. Thông thường, trong một quan hệ nghĩa vụ, bên có nghĩa vụ tự giác thực hiện nghĩa vụ của họ đối với người có quyền và nếu đến thời hạn mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện đúng, đầy đủ nghĩa vụ của mình thì BPBĐ nghĩa vụ đó cũng được coi là chấm dứt. Chức năng dự phòng của các BPBĐ cho thấy rằng chúng chỉ được áp dụng khi nghĩa vụ chính không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhăm qua đó bảo đảm quyên lợi cho bên có quyền.
Tuy nhiên, ở đây sự kiện “vi phạm nghĩa vụ” cần được hiểu theo nghĩa rộng, nghĩa là không chi vi phạm nghĩa vụ chính (nghĩa vụ được bao đảm), mà đó có thể là vi phạm đối với một nghĩa vụ khác cũng được bảo đảm chung băng một tài sản (khoản 3 Điều 296 BLDS 2015) hoặc theo các trường hợp do các bên thỏa thuận (vi phạm cam kết trong quá trình xác lập) hoặc luật có quy định (khoản 3 Điều 299 BLDS 2015). Phân loại biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự Theo tiêu chí đối tượng hướng tới của bảo đảm (quyền của bên nhận bảo đảm trong giao dịch bảo đảm), BPBĐ có thể được phân chia thành BPBĐ đối nhân và BPBĐ đối vật. BPBĐ đối nhân là bảo đảm không bang tài sản mà băng uy tín của bên bảo đảm, theo đó bên nhận bảo đảm không có quyền trực tiếp tác động lên tài sản của bên bảo đảm mà thực hiện thông qua quyền yêu cầu bên bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bảo đảm (phổ biến là biện pháp bao lãnh). Còn BPBĐ đối vật là bảo đảm bằng tài sản, bên nhận bảo đảm có quyền tác động lên TSBD của bên bảo đảm dé đạt được lợi ích của mình (phô biến là biện pháp cầm có, thé chấp.
10 Theo tiêu chí về căn cứ làm phát sinh quan hệ bao đảm, BPBD có thé được phân chia thành BPBĐ theo thỏa thuận và BPBĐ theo luật định. BPBĐ theo thỏa thuận là bảo đảm do các bên tự thỏa thuận xác lập nên bằng giao dịch dân sự (phô biến là biện pháp cầm có, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lãnh. Còn BPBD theo luật định là biện pháp được xác lập theo co chế/tình huống pháp luật quy định, mặc định bảo vệ lợi ích chính đáng của bên có đóng góp cụ thê, trực diện trên TSBĐ và chủ yếu hướng đến xác lập quyền đối kháng đối với bên thứ ba (phổ biến là biện pháp cầm giữ tài sản). Tại các quốc gia theo hệ thống pháp luật Civil Law, các quy định pháp luật về giao dịch bảo đảm có phạm vi điều chỉnh khá hẹp, giới hạn đối với một số BPBĐ cụ thé, như: cầm có, thé chấp, bảo lãnh, ký quỹ ., trong đó cầm cé và thé chấp là hai biện pháp phổ biến hơn cả.
Tại các quốc gia theo hệ thống Common Law, các quy định pháp luật về bảo dam coi loi ích bảo đảm là nguồn gốc của mọi giao dich bao đảm. Các BPBĐ như cầm có, thế chấp. chỉ là cách thé hiện cụ thể của lợi ích bảo đảm. Quyền 9 UCC không giải thích khái niệm “lợi ích bảo đảm”, tuy nhiên trên cơ sở Quyền 9 UCC, New Zealand và một số bang của Canada đã cụ thê hóa khái niệm này trong Luật về bảo đảm của mình.
(2) Bên có nghĩa vụ theo tài khoản nợ có thể phải thực hiện lợi ích bảo đảm trên tài khoản nợ mà người này có nghĩa vụ phải thanh toán. (3) Để tránh hạn chế các quy định của khoản (1), cũng như để tránh nham lẫn, Luật này áp dụng cả với các nghĩa vụ đặc dinh/co định, nghĩa vụ luân chuyển, thé chấp động sản, hợp dong mua bán có diéu kiện (bao gồm cả hợp đông mua bán có bảo lưu quyển), hợp đồng thuê mua, cam cố, nhận uy thác có bảo dam, ủy thác tiếp nhận, gửi bán, cho thuê, hoặc hợp đồng sửa chữa tài sản, bảo đảm cho việc trả tiền hoặc thực hiện nghĩa vụ”. Với tư duy pháp luật coi lợi ích bảo đảm là “gốc” của mọi giao dịch bảo đảm, pháp luật về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ của Hoa Kỳ, New Zealand và một số bang của Canada không điều chỉnh các BPBĐ cụ thể như cầm có, thế chấp. mà điều chỉnh về lợi ích bảo đảm và các vấn đề liên quan đến việc thực hiện lợi ích bảo đảm.
Do đó, tất cả các giao dịch làm phát sinh lợi ích bảo đảm, không phụ thuộc vào tên gọi của giao dịch, đều thuộc phạm vi áp dụng của pháp luật về bảo đảm của các quốc gia này.