Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp "Bảo đảm quyền của người khuyết tật tại Việt Nam" được thực hiện bởi tác giả Nguyễn Phi Hùng, sinh viên chuyên ngành Luật Hiến pháp, Trường Đại học Luật Hà Nội, dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đậu Công Hiệp (năm 2023). Đề tài bắt nguồn từ những lý do lý luận và thực tiễn sau:

  • Lý do chọn đề tài và bối cảnh thực tiễn: Người khuyết tật (NKT) là một trong những nhóm yếu thế lớn nhất trong xã hội, thường chịu nhiều tổn thương và gặp trở ngại trong việc thực hiện đầy đủ các quyền con người. Nhận thức xã hội đối với NKT đã có bước chuyển biến căn bản: từ cách tiếp cận dựa trên "phúc lợi xã hội, từ thiện" (coi NKT là đối tượng cần được trợ giúp thụ động) sang cách tiếp cận dựa trên "quyền con người" (coi NKT là chủ thể bình đẳng có quyền tự quyết). Trên bình diện quốc tế, quan điểm này được khẳng định qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948 và đặc biệt là Công ước của Liên hợp quốc về Quyền của Người khuyết tật (CRPD). Tại Việt Nam, với tư cách là quốc gia thành viên CRPD, Nhà nước đã thể chế hóa quyền của NKT trong Hiến pháp năm 2013, Luật Người khuyết tật năm 2010 cùng nhiều đạo luật chuyên ngành. Tuy nhiên, trước bối cảnh số lượng NKT gia tăng do tai nạn giao thông, già hóa dân số và biến đổi khí hậu, việc bảo đảm thực thi quyền NKT trên thực tế vẫn còn nhiều rào cản và bất cập pháp lý.
  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ các ưu điểm, hạn chế, bất cập trong quy định của pháp luật Việt Nam cũng như những vướng mắc trong quá trình triển khai thực tế việc bảo đảm quyền của NKT; từ đó đề xuất các giải pháp, kiến nghị nhằm tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật về bảo đảm quyền của NKT tại Việt Nam.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Làm rõ một số vấn đề lý luận về NKT, bảo đảm quyền của NKT, các nguyên tắc và phương thức bảo đảm quyền; phân tích nội dung các quyền cơ bản theo pháp luật và kinh nghiệm quốc tế trong việc bảo đảm quyền của NKT.
    2. Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật hiện hành của Việt Nam liên quan đến bảo đảm quyền của NKT và thực tiễn thi hành trên các lĩnh vực then chốt.
    3. Đưa ra các quan điểm, định hướng và giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của NKT tại Việt Nam.
  • Đối tượng nghiên cứu: Quyền của người khuyết tật và hoạt động bảo đảm quyền của người khuyết tật, tập trung vào các nhóm quyền cơ bản gồm: quyền lao động - việc làm, quyền giáo dục, quyền chăm sóc sức khỏe - y tế, quyền bảo trợ xã hội, quyền tham gia hoạt động xã hội (tiếp cận công trình, giao thông) và quyền trong lĩnh vực tư pháp.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khóa luận tập trung nghiên cứu Công ước CRPD năm 2007, Hiến pháp năm 2013, Luật Người khuyết tật năm 2010, Bộ luật Lao động năm 2012 và năm 2019, Luật Việc làm năm 2013, Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014, Luật Bảo hiểm y tế năm 2008 (sửa đổi năm 2014), Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và năm 2017, Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 cùng các văn bản dưới luật và số liệu thực tiễn tại Việt Nam tính đến giai đoạn 2018 - 2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

  • Khung lý thuyết và văn bản pháp luật nền tảng:
    • Khung lý thuyết nhân quyền: Tiếp cận quyền con người theo tiêu chuẩn quốc tế của Liên hợp quốc (UN) và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO); chuyển đổi mô hình y tế (Medical Model) sang mô hình xã hội (Social Model) và mô hình quyền (Human Rights Model) về khuyết tật.
    • Văn kiện quốc tế: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền 1948 (UDHR), Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị 1966 (ICCPR), Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa 1966 (ICESCR), Công ước số 159 của ILO năm 1983 về phục hồi chức năng lao động và việc làm cho NKT, Công ước Liên hợp quốc về Quyền của Người khuyết tật năm 2007 (CRPD).
    • Hệ thống pháp luật quốc gia: Hiến pháp năm 2013; Luật Người khuyết tật năm 2010; Bộ luật Lao động năm 2019; Luật Khám bệnh, chữa bệnh năm 2009; Luật Giáo dục năm 2019; Luật Nhà ở năm 2014; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017; các Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, 136/2013/NĐ-CP, 144/2017/NĐ-CP, 20/2021/NĐ-CP, 49/2021/NĐ-CP; Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT và Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 10:2014/BXD.
  • Phương pháp nghiên cứu:
    • Phương pháp luận: Dựa trên phép duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; quán triệt các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách của Nhà nước về an sinh xã hội và bảo đảm quyền cho nhóm yếu thế.
    • Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Phương pháp phân tích quy phạm pháp luật (Legal Normative Analysis); phương pháp so sánh luật học (Comparative Law) đối chiếu giữa pháp luật Việt Nam với chuẩn mực quốc tế CRPD và pháp luật các quốc gia (Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Úc, Nhật Bản, Anh, New Zealand, Trung Quốc, Myanmar, Philippines, Nepal); phương pháp tổng hợp, thống kê xã hội học nhằm đánh giá thực trạng thực thi qua các báo cáo thực tế.
  • Nguồn dữ liệu: Dữ liệu thứ cấp trích xuất từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo giám sát chuyên đề năm 2015 của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội, báo cáo rà soát năm 2018 của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF), số liệu thống kê từ Ủy ban Quốc gia về Người khuyết tật Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các ấn phẩm khoa học của Trường Đại học Luật Hà Nội và Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bảo đảm quyền của người khuyết tật

Chương 1 xây dựng nền tảng lý luận toàn diện về khái niệm, đặc điểm, nguyên tắc, phương thức bảo đảm quyền của NKT và kinh nghiệm quốc tế:

  • Khái niệm và đặc điểm: Khóa luận đối chiếu định nghĩa NKT của CRPD 2007, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 1999 - phân biệt impairment, disability, handicap), ILO (Công ước 159), Luật Người khuyết tật Việt Nam 2010 (Điều 2) cùng luật của Hoa Kỳ (ADA 1990/2008) và Trung Quốc (1990). Khái niệm "bảo đảm quyền" được phân biệt rõ với "bảo vệ" (ngăn ngừa vi phạm) và "bảo hộ" (che chở tránh tổn thất): bảo đảm quyền là việc Nhà nước và các chủ thể thiết lập, thực thi, tuân thủ các điều kiện cần thiết để NKT được tôn trọng, thụ hưởng đầy đủ các quyền tự nhiên và chính đáng.
  • Nguyên tắc bảo đảm quyền (Điều 3 CRPD): (1) Tôn trọng nhân phẩm vốn có và quyền tự chủ cá nhân; (2) Không phân biệt đối xử; (3) Tôn trọng sự khác biệt và chấp nhận NKT là một phần của sự đa dạng nhân loại; (4) Bình đẳng về cơ hội; (5) Bình đẳng giữa nam và nữ; (6) Tôn trọng khả năng phát triển của trẻ em khuyết tật và quyền giữ gìn bản sắc.
  • Phương thức bảo đảm quyền: Gồm phương thức thể chế (ghi nhận quyền bình đẳng, xóa bỏ rào cản, nghĩa vụ nội luật hóa của Nhà nước theo ba bậc: tôn trọng, bảo vệ, thực hiện) và thiết chế (ở cấp quốc tế là Ủy ban về quyền của NKT gồm 18 chuyên gia theo dõi việc thực thi CRPD; ở cấp quốc gia là cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức của NKT).
  • Kinh nghiệm quốc tế:
    • Tiếp cận khái niệm và chống phân biệt đối xử: Đạo luật ADA của Hoa Kỳ, Đạo luật DDA 1992 của Úc (với các cơ chế ủy thác điều tra, hòa giải, miễn trừ tạm thời của Ủy ban Nhân quyền và Cơ hội Bình đẳng), Luật Nhân quyền 1993 của New Zealand.
    • Mô hình thiết chế chuyên trách: Cơ quan điều phối cấp cao tại Myanmar (giới hạn dưới 60 thành viên, Phó Chủ tịch là Bộ trưởng, người đứng đầu là lãnh đạo NGO về NKT), Hội đồng quốc gia tại Philippines (Chủ tịch là người đứng đầu NGO về NKT), mô hình đại diện phụ nữ khuyết tật tại Nepal (ít nhất 1/3 thành viên đại diện là phụ nữ).
    • Chính sách định mức lao động (Quota system): Đức áp dụng hạn ngạch bắt buộc 5% lao động là NKT đối với doanh nghiệp có từ 20 lao động trở lên (Bộ luật Xã hội 2002), nếu không đáp ứng phải nộp tiền phạt vào quỹ hỗ trợ việc làm; Pháp cho phép doanh nghiệp linh hoạt thực hiện định mức thông qua mua hàng hóa/dịch vụ của cơ sở có lao động NKT; Nhật Bản điều chỉnh định mức linh hoạt theo biến động thị trường lao động.

Chương 2: Bảo đảm quyền của người khuyết tật theo pháp luật Việt Nam

Chương 2 phân tích chuyên sâu các quy định pháp luật thực định của Việt Nam và đánh giá thực trạng thực hiện trên 6 lĩnh vực chính:

  • Lĩnh vực lao động và việc làm:
    • Quy định: Điều 32, 33 Luật NKT 2010; Bộ luật Lao động 2019 (khoản 1 Điều 113: NKT làm việc đủ 12 tháng được nghỉ phép năm 14 ngày; Điều 160: cấm sử dụng NKT suy giảm khả năng lao động từ 51% trở lên làm thêm giờ, làm đêm trừ khi họ đồng ý); chính sách hỗ trợ cơ sở sử dụng từ 30% lao động là NKT; Quyết định số 1190/QĐ-TTg đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ đào tạo nghề, tạo việc làm cho 300.000 NKT và phấn đấu 100% NKT có nhu cầu, đủ điều kiện được vay vốn ưu đãi.
    • Thực trạng & Bất cập: Cả nước có khoảng 7 triệu NKT (chiếm hơn 7% dân số từ 2 tuổi trở lên), trong đó 61% trong độ tuổi lao động và 40% có khả năng lao động. Tuy nhiên, chỉ có 31,7% NKT từ 15 tuổi trở lên có việc làm. Về trình độ: hơn 41% NKT từ 15 tuổi trở lên không biết chữ, số có bằng cấp từ THCS trở lên chỉ chiếm 19,5%; hơn 93% không có trình độ chuyên môn kỹ thuật, chỉ 6,5% có chứng chỉ nghề trở lên. Quy định ưu đãi cho doanh nghiệp có từ 30% lao động là NKT hoặc tối thiểu 10 lao động NKT bộc lộ khoảng cách bất hợp lý, thiếu công bằng giữa các doanh nghiệp quy mô khác nhau.
  • Lĩnh vực giáo dục:
    • Quy định: Điều 61 Hiến pháp 2013; Điều 13 Luật Giáo dục 2019; Thông tư liên tịch số 43/2013/TTLT-BGDĐT-BLĐTBXH-BTC; Quyết định số 338/QĐ-BGDĐT (mục tiêu: 70% NKT mầm non/phổ thông tiếp cận giáo dục hòa nhập, 50% cán bộ/giáo viên được tập huấn, 40% tỉnh/thành có trung tâm hỗ trợ phát triển GDHN); Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT quy định mỗi lớp học hòa nhập không bố trí quá 03 học sinh khuyết tật.
    • Thực trạng: Theo Báo cáo giám sát năm 2015 của Ủy ban Về các vấn đề xã hội của Quốc hội và Báo cáo năm 2018 của UNICEF, cơ sở vật chất các trường phổ thông chưa đáp ứng tiêu chuẩn tiếp cận; đa số giáo viên chưa được đào tạo chuyên sâu về kỹ năng dạy hòa nhập; nhiều trẻ em khuyết tật vẫn bị từ chối tiếp nhận hoặc bỏ học sớm.
  • Lĩnh vực y tế và chăm sóc sức khỏe:
    • Quy định: Khoản 1 Điều 58 Hiến pháp 2013; Điều 21 đến 26 Luật NKT 2010; chính sách BHYT thanh toán 100% chi phí khám chữa bệnh cho NKT hưởng trợ cấp hàng tháng.
    • Thực trạng: Năm 2018, Nhà nước phân bổ 17.388 tỷ đồng theo Nghị định số 136/2013/NĐ-CP để trợ cấp hàng tháng và mua thẻ BHYT cho đối tượng bảo trợ xã hội. Các tổ chức xã hội vận động nguồn lực lớn: Hội Bảo trợ NKT và Trẻ mồ côi Việt Nam huy động 591 tỷ đồng (hỗ trợ hơn 4,1 triệu lượt người); Hội Nạn nhân chất độc da cam/dioxin vận động 201,194 tỷ đồng; Hội Cứu trợ trẻ tàn tật vận động gần 14 tỷ đồng. Hạn chế: Hệ thống phục hồi chức năng của bệnh viện mới đáp ứng và NKT tiếp cận được khoảng 20% tổng nhu cầu toàn quốc; danh mục BHYT chưa chi trả một số dụng cụ chỉnh hình và kỹ thuật phục hồi chức năng chuyên sâu.
  • Lĩnh vực bảo trợ xã hội:
    • Quy định: Nghị định số 20/2021/NĐ-CP quy định mức chuẩn trợ cấp xã hội là 360.000 đồng/tháng. Hệ số trợ cấp áp dụng từ 1,5 đến 2,5 tùy mức độ khuyết tật và độ tuổi.
    • Thực trạng: Đến năm 2019, cả nước có trên 1 triệu NKT nặng và đặc biệt nặng cùng khoảng 100.000 hộ gia đình, cá nhân nhận chăm sóc NKT tại cộng đồng được hưởng chính sách trợ cấp thường xuyên.
  • Lĩnh vực hoạt động xã hội (Giao thông & Xây dựng): Quy định tại Điều 41, 42 Luật NKT 2010 và Quy chuẩn QCVN 10:2014/BXD của Bộ Xây dựng về tiếp cận công trình công cộng, đường phố, nhà ga, xe buýt. Thực tế việc cải tạo hạ tầng giao thông và công trình cũ diễn ra chậm, thiếu tính đồng bộ.
  • Lĩnh vực tư pháp: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017 và Nghị định số 144/2017/NĐ-CP quy định cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho NKT có khó khăn về tài chính (thuộc hộ nghèo, cận nghèo hoặc hưởng trợ cấp xã hội); Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định chỉ định người bào chữa bắt buộc cho người bị buộc tội có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần.

Chương 3: Quan điểm, giải pháp nâng cao hiệu quả bảo đảm quyền của người khuyết tật tại Việt Nam

Tác giả đề xuất các định hướng và giải pháp cụ thể nhằm tháo gỡ bất cập đã chỉ ra ở Chương 2:

  • Nhóm quan điểm chỉ đạo:
    1. Nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước: Quán triệt chuyển biến từ tư duy ban ơn, từ thiện sang tư duy trách nhiệm pháp lý theo chuẩn mực nhân quyền quốc tế; xóa bỏ thái độ e ngại, phân biệt đối xử trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính và cung cấp dịch vụ công.
    2. Nâng cao hiểu biết cho các tổ chức xã hội và cộng đồng doanh nghiệp: Tuyên truyền trách nhiệm xã hội, vận động doanh nghiệp tạo cơ hội việc làm bình đẳng, đầu tư cải tạo môi trường làm việc phù hợp cho lao động khuyết tật.
    3. Nâng cao nhận thức cho gia đình, nhà trường và bản thân NKT: Xóa bỏ tâm lý mặc cảm, tự ti của NKT; khuyến khích NKT chủ động học tập, rèn luyện kỹ năng sống độc lập, nâng cao hiểu biết về các quyền luật định để tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật:
    • Hoàn thiện pháp luật lao động - việc làm: Điều chỉnh lại tiêu chuẩn hưởng chính sách ưu đãi đối với doanh nghiệp tuyển dụng NKT theo hướng linh hoạt, không áp đặt cứng nhắc ngưỡng 30% lao động hoặc 10 lao động; nghiên cứu áp dụng cơ chế định mức việc làm bắt buộc (chế tài tài chính nộp quỹ việc làm tương tự mô hình của CHLB Đức).
    • Hoàn thiện pháp luật giáo dục: Xây dựng quy chuẩn bắt buộc về cơ sở vật chất tiếp cận trong trường học; đưa môn học/học phần giáo dục hòa nhập vào chương trình đào tạo chuẩn tại các trường sư phạm; mở rộng mạng lưới trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tại các tỉnh, thành phố.
    • Hoàn thiện pháp luật y tế: Mở rộng danh mục chi trả của Quỹ Bảo hiểm y tế đối với các dịch vụ phục hồi chức năng, dụng cụ chỉnh hình, thiết bị trợ thính, xe lăn cho NKT; đẩy mạnh mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng (CBR) lồng ghép vào trạm y tế cấp xã.
    • Hoàn thiện pháp luật bảo trợ xã hội: Từng bước nâng mức chuẩn trợ cấp xã hội (360.000 đồng/tháng hiện tại còn thấp so với mức sống tối thiểu); mở rộng diện hỗ trợ chi phí vệ sinh cá nhân, hỗ trợ phương tiện sinh hoạt chuyên biệt cho NKT nặng.
    • Hoàn thiện pháp luật về tiếp cận giao thông, xây dựng và tư pháp: Ban hành bộ tiêu chuẩn chi tiết về khả năng tiếp cận toàn diện bắt buộc kiểm tra khi nghiệm thu công trình; mở rộng diện NKT được trợ giúp pháp lý không phụ thuộc vào điều kiện tài chính khắt khe.

Kết quả và đóng góp

1. Kết quả nghiên cứu và tổng hợp số liệu thực chứng

Khóa luận đã tổng hợp hệ thống số liệu pháp lý và thực trạng bảo đảm quyền của NKT tại Việt Nam qua các bảng tổng hợp cụ thể:

Chỉ số / Tiêu chí thực trạng Số liệu / Tỷ lệ ghi nhận trong văn bản Nguồn dữ liệu
Tổng số người khuyết tật Khoảng 7.000.000 người (chiếm > 7% dân số từ 2 tuổi trở lên) Ủy ban Quốc gia về NKT
NKT trong độ tuổi lao động 61% (trong đó 40% có khả năng và sẵn sàng lao động) Ủy ban Quốc gia về NKT
Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi có việc làm 31,7% (so với 33,9% ở nhóm người không khuyết tật) Báo Nhân dân (2023)
Tỷ lệ NKT từ 15 tuổi không biết chữ > 41% Ủy ban Quốc gia về NKT
Tỷ lệ NKT có trình độ từ THCS trở lên 19,5% Ủy ban Quốc gia về NKT
Tỷ lệ NKT không có chuyên môn > 93% (chỉ 6,5% có chứng chỉ nghề trở lên) Ủy ban Quốc gia về NKT
Ngân sách Nhà nước dạy nghề NKT Khoảng 10 tỷ đồng/năm (triển khai từ 2012) Báo Nhân dân (2023)
Mục tiêu Quyết định 1190/QĐ-TTg Hỗ trợ học nghề, tạo việc làm cho 300.000 NKT đến 2030 Quyết định 1190/QĐ-TTg
Tiếp cận phục hồi chức năng bệnh viện Chỉ đáp ứng và tiếp cận được khoảng 20% tổng số NKT Bộ Y tế / Báo Pháp luật (2019)
Kinh phí phân bổ Nghị định 136/2013 17.388 tỷ đồng (năm 2018) Bộ LĐ-TB&XH (2019)
Vận động xã hội (Hội Bảo trợ NKT) 591 tỷ đồng (hỗ trợ > 4,1 triệu lượt người năm 2018) Báo An sinh xã hội (2019)
Số NKT hưởng trợ cấp xã hội thường xuyên > 1.000.000 người nặng/đặc biệt nặng (năm 2019) Bộ LĐ-TB&XH

Bên cạnh đó, tác giả làm rõ khung mức hưởng trợ cấp xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP (mức chuẩn 360.000 đồng/tháng):

Nhóm đối tượng người khuyết tật Hệ số Mức hưởng trợ cấp hàng tháng (VNĐ)
Người khuyết tật đặc biệt nặng 2,0 720.000
Trẻ em khuyết tật đặc biệt nặng / Người cao tuổi khuyết tật đặc biệt nặng 2,5 900.000
Người khuyết tật nặng 1,5 540.000
Trẻ em khuyết tật nặng / Người cao tuổi khuyết tật nặng 2,0 720.000

2. Đóng góp của khóa luận

  • Về mặt lý luận: Khóa luận hệ thống hóa cơ sở lý luận về quyền và bảo đảm quyền của NKT dưới góc độ Luật Hiến pháp và Luật Nhân quyền quốc tế; phân tích sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với Công ước CRPD 2007; làm rõ sự khác biệt giữa các khái niệm pháp lý "bảo đảm", "bảo vệ" và "bảo hộ".
  • Về mặt thực tiễn và chính sách: Khóa luận tổng hợp các lỗ hổng pháp lý cụ thể trong chính sách ưu đãi việc làm (ngưỡng 30%), rào cản thanh toán BHYT phục hồi chức năng, định mức trợ cấp an sinh xã hội; đồng thời cung cấp các gợi mở chính sách hữu ích rút ra từ bài học kinh nghiệm của CHLB Đức, Úc, Hoa Kỳ, New Zealand để hoàn thiện pháp luật Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Khóa luận tập trung nghiên cứu dưới góc độ Luật Hiến pháp và khung pháp luật chung, chưa đi sâu giải quyết chi tiết các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự hoặc tranh chấp lao động cụ thể có yếu tố NKT.
    • Số liệu thực tế về giáo dục hòa nhập và y tế chủ yếu khai thác từ các báo cáo tổng kết giai đoạn 2015 - 2019, chưa có điều kiện khảo sát định lượng trực tiếp diện rộng tại các địa phương vùng sâu, vùng xa trong giai đoạn hậu đại dịch COVID-19.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế thành lập và vận hành một thiết chế độc lập giám sát việc thực thi Công ước CRPD tại Việt Nam theo yêu cầu tại Điều 33 CRPD.
    • Đánh giá tác động kinh tế - pháp lý của việc chuyển đổi chính sách ưu đãi tự nguyện sang cơ chế định mức bắt buộc (Quota system) kèm quỹ việc làm cho lao động khuyết tật tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận tốt nghiệp là tài liệu tham khảo học thuật hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Luật: Đặc biệt là sinh viên theo học chuyên ngành Luật Hiến pháp, Luật Lao động, Luật An sinh xã hội, Luật Nhân quyền tại Trường Đại học Luật Hà Nội và các cơ sở đào tạo luật trên toàn quốc; cung cấp nguồn tư liệu phân tích chi tiết về Luật Người khuyết tật 2010 và Công ước CRPD.
  • Nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách: Cung cấp tài liệu tham khảo thực tế về các điểm nghẽn trong chính sách việc làm, y tế, giáo dục hòa nhập và bảo trợ xã hội đối với NKT.
  • Các tổ chức xã hội, tổ chức của NKT và người thực hiện trợ giúp pháp lý: Là tài liệu tham khảo cấu trúc quyền lợi luật định nhằm tư vấn, hỗ trợ pháp lý và vận động chính sách cho NKT tại cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân biệt khái niệm "bảo đảm quyền" với "bảo vệ" và "bảo hộ" quyền như thế nào?

Theo phân tích tại Chương 1 (mục 1.1.1.3), tác giả chỉ rõ: "Bảo vệ" thường đề cập đến việc ngăn chặn, phòng ngừa các hành vi xâm phạm; "bảo hộ" là việc che chở, giữ gìn để con người không bị tổn thất; trong khi đó, "bảo đảm quyền" là việc Nhà nước và các chủ thể có trách nhiệm thiết lập, thực hiện và tuân thủ những điều kiện, tiền đề hay hoạt động cần thiết để NKT được tôn trọng, thực hiện và thụ hưởng đầy đủ các quyền lợi tự nhiên, chính đáng theo luật định.

2. Pháp luật Việt Nam hiện hành quy định mức chuẩn và mức tiền trợ cấp xã hội hàng tháng cho NKT nặng và đặc biệt nặng là bao nhiêu?

Căn cứ Nghị định số 20/2021/NĐ-CP (trình bày tại mục 2.4.1), mức chuẩn trợ cấp xã hội hiện nay là 360.000 đồng/tháng. Mức hưởng cụ thể của từng nhóm:

  • NKT nặng (hệ số 1,5): 540.000 đồng/tháng; nếu là trẻ em hoặc người cao tuổi (hệ số 2,0): 720.000 đồng/tháng.
  • NKT đặc biệt nặng (hệ số 2,0): 720.000 đồng/tháng; nếu là trẻ em hoặc người cao tuổi (hệ số 2,5): 900.000 đồng/tháng.

3. Quy định ưu đãi cho doanh nghiệp sử dụng lao động khuyết tật theo Luật Người khuyết tật 2010 bộc lộ điểm bất cập nào theo phân tích của tác giả?

Tại mục 2.1.2, tác giả chỉ ra rằng quy định yêu cầu doanh nghiệp phải sử dụng từ 30% tổng số lao động là NKT trở lên mới được hưởng chính sách ưu đãi vay vốn, giảm thuế, hỗ trợ mặt bằng đã tạo ra sự bất hợp lý: Doanh nghiệp lớn có thể tuyển dụng hàng chục lao động NKT nhưng không đạt tỷ lệ 30% thì không được ưu đãi; ngược lại, doanh nghiệp siêu nhỏ chỉ cần thuê 1 - 2 lao động NKT đã đạt tỷ lệ 30% lại được hưởng ưu đãi. Điều này làm giảm động lực tuyển dụng NKT ở các doanh nghiệp quy mô vừa và lớn.

4. Khóa luận đề cập đến kinh nghiệm định mức tuyển dụng lao động NKT (Quota) của CHLB Đức ra sao?

Tại mục 1.4.2, khóa luận dẫn chứng theo Bộ luật Xã hội Đức năm 2002: Các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân sử dụng từ 20 lao động trở lên bắt buộc phải bảo đảm ít nhất 5% tổng số lao động là NKT. Nếu không đạt định mức này, doanh nghiệp phải nộp một khoản tiền phạt tương ứng với từng chỉ tiêu còn thiếu. Số tiền thu được từ nguồn phạt này được dùng hoàn toàn vào việc hỗ trợ phục hồi chức năng lao động, đào tạo nghề và cải tạo môi trường làm việc cho NKT.

5. Bộ GD&ĐT quy định giới hạn số lượng học sinh khuyết tật trong một lớp học hòa nhập là bao nhiêu?

Căn cứ Thông tư số 03/2018/TT-BGDĐT ngày 29/01/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (nêu tại mục 2.2.1), cơ sở giáo dục thực hiện giáo dục hòa nhập phải bảo đảm mỗi lớp học hòa nhập có không quá 03 (ba) người khuyết tật. Trường hợp đặc biệt, thủ trưởng cơ sở giáo dục căn cứ vào điều kiện thực tế mới được sắp xếp thêm để bảo đảm quyền được học tập cho NKT có nhu cầu.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp "Bảo đảm quyền của người khuyết tật tại Việt Nam" của tác giả Nguyễn Phi Hùng đã hệ thống hóa sâu sắc khung lý luận và chuẩn mực quốc tế về quyền con người của người khuyết tật theo Công ước CRPD. Công trình đã đánh giá toàn diện bức tranh thực thi pháp luật Việt Nam trên 6 lĩnh vực cơ bản, chỉ rõ các khoảng trống lập pháp và bất cập thực tiễn kèm hệ thống số liệu minh chứng xác thực. Các nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao nhận thức xã hội do khóa luận đề xuất mang giá trị khoa học và giá trị ứng dụng thiết thực đối với công tác lập pháp, nghiên cứu học thuật và bảo đảm an sinh xã hội tại Việt Nam.