mở đầu cho những Az 2 cuộc thảo luận vê quyên của các nhóm thiêu sô ở câp độ quôc gia, khu vực và sau đó 13 là cấp độ quốc tế [223] [224]. Dẫu được quan tâm từ lâu, các vấn đề liên quan tới nhóm tôn giáo thiểu số bị coi là yếu tố không thể thương lượng của các hiệp ước hòa bình (đặc biệt là các hiệp ước hòa bình mới nổi) do sự nhạy cảm về chính trị [223, 17]. Thông qua việc rà soát hệ thống pháp luật các cơ quan của Liên Hợp Quốc như Ủy ban Nhân quyên và các thủ tục xử lý vi phạm (Thủ tục 1235 và 1503), chúng tôi nhận ra rằng: trong khi, các nhóm tôn giáo thiêu số thường phải đối mặt với sự phân biệt đối xử và ngược đãi với tư cách nhóm, thì hầu hết các trường hợp sẽ được giải quyết dưới đạng quyền cá nhân (“cái ô” quyền “tự do tôn giáo hoặc tín ngưỡng” theo cách gọi của Nazila Ghanea - Giáo sư Luật Nhân quyền Quốc tế tại Đại học Oxford) thay vì theo quyền của nhóm thiêu số [238]. Sự xuất hiện trở lại của thuật ngữ “nhóm tôn giáo thiểu số” Hơn 30 năm sau khi thành lập, Liên Hợp Quốc đã dần quan tâm trở lại khái niệm “nhóm tôn giáo thiêu số”.
Năm 1967, Tiêu ban Phòng chống Phân biệt đối xử và Bảo vệ Người thiểu số đã thông qua Nghị quyết n. 9 (XX) về bảo vệ các dân tộc thiểu số, trong đó có nhắc tới tôn giáo thiêu số. Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc (OHCHR) đã sử dụng thuật ngữ “tôn giáo thiểu số” trong tài liệu “Quyền của Người thiêu số: Các tiêu chuân và hướng dẫn thực hiện quốc tế, (HR/PUB/10/3 2010)” [326]. Tại Phiên thứ bảy mươi lăm của Liên Hợp Quốc ngày 21 tháng 7 năm 2020, trong Mục 72 (b) chương trình nghị sự tạm thời (A/75/150): Thúc đây và bảo vệ quyền con người: các câu hỏi về quyền con người, bao gồm các phương pháp tiếp cận thay thế để cải thiện việc thụ hưởng hiệu quả các quyền con người và các quyền tự do cơ bản [236] có đề cập tới “nhóm tôn giáo thiêu số”.
Trong Báo cáo của Báo cáo viên Đặc biệt về các vấn đề thiểu số, Fernand de Varennes cũng nhắc tới khái niệm “tôn giáo thiêu số”. Nghiên cứu chuyên đề về tầm quan trọng và phạm vi của bốn loại thiêu số (quốc gia hoặc dân tộc, tôn giáo và ngôn ngữ), Báo cáo viên đặc biệt xem xét lịch sử, cách tiếp cận và luật học về “tôn giáo thiểu số”. Quá trình soạn thảo Công ước Châu Âu về Bảo vệ Người thiêu số, Ủy ban Dân chủ Châu Âu thông qua luật đã đưa ra nhiều đề cập đến khái niệm tôn giáo thiểu số tại Điều 10 [204]. Vào ngày 27 tháng 4 năm 2017, Hội đồng Nghị viện của Hội đồng Châu Âu đã thông qua 14 văn bản tạm thời của Nghị quyết Bảo vệ quyền của cha mẹ và trẻ em thuộc các nhóm tôn giáo thiểu số [209, 10].
Hiến chương Ả Rập về Nhân quyền có nhắc tới nhóm tôn giáo thiểu số [211] tại Điều 37. Trung tâm Nghiên cứu Pew ở Washington, DC đã công bồ số liệu về số lượng người ti nạn đến Hoa Kỳ trong năm 2016. Hơn một phần ba số người tị nạn được gắn nhãn “tôn giáo thiêu số ở nước họ”, trong đó 61% là người theo Cơ Đốc giáo [256]. Các cách hiểu về “nhóm tôn giáo thiểu số” đã có và đề xuất khái niệm “nhóm tôn giáo thiểu số” Cho tới nay, khái niệm “nhóm tôn giáo thiêu số” vẫn chưa được định nghĩa rõ ràng trong các văn kiện quốc tế.
Việc xác định đâu là “nhóm tôn giáo thiểu số” trở nên quan trọng đề có thê nghiên cứu, đánh giá thế giới tôn giáo đầy phức tạp và đa dạng như hiện nay. Sự cần thiết đó đã được nhấn mạnh trong “Đề xuất cụ thể về các tiêu chuẩn tối thiểu cho người thiểu số ở EU” cho Nghị viện Châu Âu [207] do Ủy ban về Tự do Dân sự, Tư pháp và Nội vụ của Ủy ban Châu Âu thực hiện. Bao cáo viên đặc biệt Francesco CapotortI là người đầu tiên xem xét khái niệm “thiểu số”. Năm 1979, ông đã cho ra đời một báo cáo mở rộng có tựa đề “Nghiên cứu về Quyền của những người thuộc dân tộc thiêu số, tôn giáo và ngôn ngữ”.
Theo định nghĩa của Capotorti, tôn giáo thiêu số “/à một nhóm nhỏ hơn về số lượng so với phần còn lại của dân số trong quốc gia mà nhóm do dang ton tai và sở hữu các đặc điểm tôn giáo. khác với những nhóm dân số còn lạt” [192]. Năm 1985, nhiệm vụ nghiên cứu về định nghĩa của người thiểu số được giao cho Jules Deschênes. Ông giải thích rằng nhóm tôn giáo thiêu số “Jà một nhóm công dân chiếm ít hơn một nửa dân số của một quốc gia và ở vị trí không thông trị trong quốc gia đó, có đặc điểm dân tộc, tôn giáo hoặc ngôn ngữ khác với phần lớn dân số, co ý thức đoàn kết chặt chẽ với nhau bởi ÿ chí tập thé dé ton tai va mục đích của họ la dat duoc su binh dang với nhóm đa số trên thực tế và trên luật pháp” [219, 4].
Năm 1994, trong Nhận xét chung n. 23, Ủy ban Nhân quyền đã nêu: “Các thuật ngữ được sử dụng trong Điễu 27 chỉ ra rằng những người được bảo vệ là những người thuộc một nhóm và có chung một tôn giáo” [235]. Ủy ban Nhân quyền đã thể 15 hiện quan điểm khác với Jules Deschênes ở chỗ: không yêu cầu thành viên của nhóm phải là công dân tại quốc gia đó. Đồng thời, “sự tổn tại của một nhóm thiểu số về dân tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ trong một quốc gia thành viên nào đó không phụ thuộc vào quyết định của quốc gia đó mà phụ thuộc vào các yếu tô khách quan” [235, 5].
Trong tài liệu “Quyền của Người thiêu số: Các tiêu chuẩn và hướng dẫn thực hiện quốc tế, (HR/PUB/10/3 2010)”, Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc đã sử dụng khái niệm “nhóm tôn giáo thiêu số” bao gồm một loạt các cộng đồng tôn giáo hoặc tin ngưỡng, truyền thống và phi truyền thống; cho dù có được Nhà nước công nhận hay không; bao gồm cả những nhóm tôn giáo, tín ngưỡng mới được thành lập; có quy mô lớn hay nhỏ; đang tìm kiếm sự bảo vệ các quyên của họ theo tiêu chuẩn về quyên của thiểu số. Những người không theo một tín ngưỡng nào, người vô thân cũng có thể thuộc nhóm khi họ phải đối mặt với những thách thức, sự phân biệt đối xử và cần được bảo vệ quyên cua minh [277, 4]. Vao nam 2017, Uy ban Nghi vién Chau Au vé Quyén tu do Dan su, Tu phap và Nội vụ đã giao cho một nhóm chuyên gia thực hiện một nghiên cứu luật Châu Âu về thiêu số [193, 17]. Ở cấp độ khu vực, các chuyên gia đã tiến hành đánh giá, so sánh các quốc gia va dura ra kết luận: rất khó phân biệt giữa phân biệt đối xử dựa trên ly do dân tộc thiểu số, ngôn ngữ thiêu số với phân biệt đối xử dựa trên tôn giáo thiểu số.
Đôi khi, chúng bao hàm lẫn nhau (như việc bài Do Thái và Hồi giáo). Mặt khác, luật pháp các quốc gia có truyền thống ủng hộ “tôn giáo đa số” [193, 76]. Năm 2018, Tòa án Nhân quyền Châu Âu (ECHR) đã áp dụng khái niệm “nhóm tôn giáo thiểu số” trong một số vụ việc gần đây, đặc biệt là hai trường hợp khác nhau liên quan đến trẻ vị thành niên Hồi giáo ở Hy Lạp [242, 157]. Các cụm từ “tôn giáo thiểu số” và “Hỗi giáo thiểu số” được sử dụng gần như lần đầu tiên trong các phán quyết của Tòa [267, 280].
Báo cáo viên đặc biệt Hermner Bielefeldt, trong bao cao nam 2019 cua minh trước Đại hội đồng [308], da chi ra rang dân tộc thiểu số, tôn giáo hoặc ngôn ngữ là bất kỳ nhóm người nào chiếm dưới một nửa dân số trong toàn bộ lãnh thô của một Quốc gia, có các thành viên chia sẻ các đặc điêm chung vê văn hóa, tôn giáo hoặc 16 ngôn ngữ, hoặc sự kết hợp của bất kỳ điều nảo trong số này và không có bất kỳ yêu cầu nào về quốc tịch, cư trú, công nhận chính thức hoặc bất kỳ địa vị nào khác. Khái niệm đó công nhận sự tồn tại của các nhóm dân tộc thiểu số, tôn giáo hoặc ngôn ngữ là một thực tế khách quan và không phụ thuộc vào sự công nhận tới từ Nhà nước. Diễn đàn về các vấn đề thiêu số đã gọi loại “tôn giáo thiêu số” là bao gồm một loạt các “ “cộng đồng tôn giáo hoặc tin ngưỡng”, bao gồm cả “những người không theo đạo (non-believers), người vô thần (atheists), hay người theo thuyết bắt khả tri (agnosfies) ””. Bằng cách so sánh các quan điểm, có thê rút ra điểm chung trong những định nghĩa “nhóm tôn giáo thiêu số” đã được đề xuất.
Hầu như tất cả đều xác định nhóm tôn giáo thiểu số trên cơ sở tiêu chí khách quan (số lượng) và tiêu chí chủ quan (sự yếu thế trong thực hiện quyền; mong muốn gìn giữ, bảo tồn tôn giáo của mình) [229, 44]. Các nhóm tôn giáo thiểu số hoặc tín ngưỡng được hiều theo nghĩa rộng, bao trùm nhiều hệ thống tôn giáo hoặc tín ngưỡng, bao gồm các tôn giáo mới thành lập và các tín ngưỡng phi truyền thống, các thực hành tâm linh khác nhau, cũng như các cá nhân phi tôn giáo. Trong phạm vi luận văn, qua những phân tích, đánh giá quan điểm, học thuyết của một số nhà nghiên cứu, chúng tôi đề xuất khái niệm “nhóm tôn giáo thiểu số”. Cu thé: Thuật ngữ “nhóm tôn giáo thiểu số” bao gồm một loạt các cộng đồng tôn giáo, được Nhà nước công nhận hoặc không công nhận, thường có quy mô nhỏ, có sự yếu thế hơn về quyền trong xã hội, dễ phải chịu sự phân biệt đỗi xử và phụ thuộc.
Do những đặc điểm riêng về tôn giáo, tín ngưỡng khiến nhóm có thể bị tách biệt so với xã hội, các thành viên của nhóm có thể mong muốn bảo vệ quyền của họ theo các tiêu chuẩn về quyền của thiểu số. Các nhóm tôn giáo thiểu số cũng có thể là dân tộc thiểu số hoặc ngôn ngữ thiểu số. Những cách gọi khác nhau về “nhóm tôn giáo thiểu số” Thực tiễn nghiên cứu cho thấy “tôn giáo thiêu số” thường được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau: “tôn giáo mới”, “đạo lạ”, “tà đạo”,. Cụ thê: 17 © T6n gido phi truyén thong/khéng chinh thirc Đây là cách gọi được nhiều học giả Trung Quốc sử dụng.