Khóa luận về quyền bầu cử và ứng cử của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Khóa luận phân tích quyền bầu cử, ứng cử của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam, nêu rõ thực trạng và giải pháp nâng cao quyền lợi.

Chuyên ngành

Luật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2024

85
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN BẦU CỬ, ỨNG CỬ CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

1.1. Khái niệm quyền bầu cử, quyền ứng cử

1.2. Nội dung bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của người dân tộc thiểu số

1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của người dân tộc thiểu số

1.3.1. Yếu tố khách quan

1.3.2. Yếu tố chủ quan

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN BẦU CỬ, ỨNG CỬ CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của người dân tộc thiểu số

2.2. Những kết quả đạt được

2.3. Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.4. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN BẦU CỬ, ỨNG CỬ CỦA NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM

3.1. Bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của người dân tộc thiểu số phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước

3.2. Giải pháp bảo đảm quyền bầu cử, ứng cử của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

3.2.1. Giải pháp về mặt pháp lý

3.2.2. Một số giải pháp khác

3.3. Tiểu kết chương 3

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, trong đó, các người dân tộc thiểu số (DTTS) đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và phát triển đất nước. Việc bảo đảm quyền bầu cử cho các DTTS không chỉ thể hiện tính nhân văn mà còn là trách nhiệm của Nhà nước trong việc thực hiện quyền lợi chính trị cho mọi công dân. Các chính sách và luật pháp hiện hành cần được xem xét và điều chỉnh để đảm bảo rằng tất cả các nhóm dân tộc đều có cơ hội bình đẳng trong việc tham gia vào các quyết định chính trị quan trọng. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh, tất cả các dân tộc đều là con cháu Việt Nam, và việc bảo vệ quyền lợi của họ là nhiệm vụ của toàn xã hội.

II. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về quyền bầu cửquyền ứng cử, nhưng các công trình nghiên cứu chuyên sâu về bảo đảm quyền bầu cử của người dân tộc thiểu số vẫn còn hạn chế. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào khía cạnh pháp lý và thực tiễn của quyền bầu cử mà chưa đề cập đầy đủ đến những khó khăn mà DTTS phải đối mặt trong quá trình tham gia bầu cử. Điều này cho thấy cần thiết phải có một nghiên cứu toàn diện hơn nhằm nâng cao nhận thức và cải thiện thực trạng này. Việc bảo đảm quyền bầu cử cho DTTS không chỉ là vấn đề pháp lý mà còn là vấn đề xã hội cần được quan tâm sâu sắc.

III. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu của nghiên cứu là làm rõ cơ sở lý luận về bảo đảm quyền bầu cửquyền ứng cử của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Nghiên cứu sẽ phân tích thực trạng pháp luật hiện hành và đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện tình hình. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm việc thu thập và phân tích các dữ liệu liên quan đến quyền bầu cử của DTTS, đánh giá những hạn chế và nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền bầu cử của họ.

IV. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các quy định pháp luật liên quan đến quyền bầu cử, quyền ứng cử của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định pháp luật hiện hành từ năm 2013 đến nay, sau khi Hiến pháp 2013 có hiệu lực. Nghiên cứu sẽ xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện quyền bầu cử của DTTS, từ đó đưa ra những đánh giá và kiến nghị cụ thể nhằm cải thiện tình hình.

V. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của khóa luận

Nghiên cứu này không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn mang lại ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thông tin và số liệu hữu ích cho các cơ quan chức năng trong việc tham mưu, đề xuất và hoàn thiện chính sách về bảo đảm quyền bầu cử cho DTTS. Đặc biệt, việc nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và người dân về quyền bầu cử, quyền ứng cử sẽ góp phần thúc đẩy sự bình đẳng và dân chủ trong xã hội. Từ đó, tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam.

11/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE BAO ĐÂM QUYEN BAU CỬ, UNG CỬ CUA NGƯỜI DAN TỘC THIẾU $6 Ở VIỆT NAM 1. Khái niệm quyên bầu cử, quyén ứng cit Trong đời sông chính trị - x4 hội của các nha nước hiên đại trên thé giới, bau cử được xem là trái tim của chế độ dan chi’. Ở nước ta, kế từ khi cuộc Tổng tuyển cử đâu tiên được diễn ra vào ngày 06 tháng 01 năm 1946 cho đến nay, Việt Nam đã trai qua 15 cuộc bau cử đại biểu Quốc hội (ĐBQH).

Bau cử là một trong những chế định quan trong nhất của nên dan chủ, là cơ chế hợp pháp dé người dân trao quyên cho chính quyên thông qua con đường dan chủ và hop phápŠ. Quốc hội là cơ quan quyên lực nha nước cao nhất và Hội đông nhân dân các cấp là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương” Bởi vay sự thành công hay that bai của cả bô may nhà nước, của hệ thông chính quyên phụ thuộc rất nhiêu vào chất lượng, thành quả của các cuộc bau cử. Bau cử chính la phương thức lua chon người đại diện, thay mặt cho công dan để tham gia vào cơ quan quyền lực nha nước ở trung ương và địa phương, đưa ra các quyết sách quan trong nhằm thực hiện va bảo vệ quyền lam chủ của Nhân dan Trong môi quan hệ Nhả nước với công dân, bầu cử phản ánh bản chất của nên dân chủ. Trong cuộc dau tranh chông lai chế độ phong kiến, giai cap tư sản sử dung bau cử như một vũ khí chính trị sắc bén dé hạn chế và xóa bỏ dân vai trò của giai cấp phong kiến trong hệ thông quyền luc® Bau cử phat trién cùng với quá trình phat triển tư tưởng dân chủ.

Trong xã hội đương đại, đối với các quốc gia dan chủ, bau cử la một hoạt đông va lả chế định không thé thiếu * Lưu Vin Quảng (2021), Mt số điểm tương đồng vi Khác biệt gita hệ thông bau cir ở các nước TRƠN và XHƠN, tap chỉ lý trân chính trị vi truyền thông, tap chi điện từ của Học viên Báo chi vì tuyên truyền, ngủy 15/05/2021 haps ://ly hunchnnhirivatruyenthong vainot-so-diem-tuong-dong-va-Hhac-biet-gaus-he-thong-bar- uo-cac-nmoc-Tbcn:va-3đtcn-p24577 lun] © Cao Đức Thai (2022), Cân nhận thức đừng chế độ din chủ của x4 hồi ta ngày nay, bio Quân đội nhân din, ngày 28/11/2 1s Jawa. a r-dien-bien-hoa-binhvcan-nhan-thuc- -che-do-dan- cha cua-xa+ -nay-712303 Tương Minh Tuân, Bản và lập Hiện, Cổng thông tm điện từ Quốc hdirmoc Cộng hòa số hội chủnghã Vật ‘Nam }vtps/0guochoivrvulieuguochoi/anplunu/Pages/arpham aspx2ánPhamytern]D=40 * Pham Hong Dân (2011), Hoàn thiện pháp hut về quyền bầu cir của công din ở Việt Nam hiện nay, Luận văn. thạc sĩ Luật hoc, Trường Đại hoc Luật Hà Nội,Ha Nội, tr 9 8 trong cơ chế thực hiện quyên lực của nhân dân. Trong các bản Hiền pháp ở Việt Nam déu quy định về quyền bau cử, ứng cử, coi đây như một biểu hiện sinh động nhất của quyên làm chủ của nhân dân, thé hiện rố đặc trưng của Nha nước pháp quyên xã hôi chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Có thể hiểu, bâu cử là một hoạt động xã hôi của con người mà theo đó một nhóm người xác định bau ra một hay nhiều người để đại diện cho nhóm người xác định đó dé thực hiện chức năng xã hội cu thể. Bầu cử lả một khái niệm có nội dung phong phú. Trên các diễn dan trong nước cũng như quốc tế, nó được xem xét dưới nhiều phạm vi và mức độ khác nhau. Bau cử theo nghĩa góc được hiểu là sự lựa chon hoặc ra quyết định.

Dưới góc đô pháp lý, bâu cử được hiểu là thủ tục thảnh lập cơ quan nhả nước hay chức danh nhà nước, thủ tục nảy được thực hiện bởi sư biểu quyết của cử tri (đại cử tri, đại diện cử tri) với điều kiện dé bau mét đại biểu (chức danh) phải có từ hai ứng cử viên trở lên!?, Bau cử gắn với sự ra đời va phát triển của chế độ xã hội dân chủ, trong đó quyên bau cử va quyền ứng cử của công dan phải được bao dam. Ở Việt Nam, theo quy định của pháp luật, quyền bau cử của công dân là kha năng của công dan thực hiện quyên lựa chon người đại biểu của mình vao cơ quan quyên lực nhà nước. Quyên bau cử được coi 1a một trong những quyên cơ bản của con người trong lĩnh vực chính trị và đã được ghi nhận tại Điêu 21 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyên! năm 1948 của Liên hợp quốc: “I. Tất cd moi người đều có quyén tham gia vào quan if của đất nước minh trực tiep hoặc thông qua những người đại điên đã được tự do lựa chon; 2.

Tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng trong việc tiếp can dich vu công cộng của dat nước mình, * Quyền bầu cirvi cơ chế bio dim quyền bầu cử của công din ở Việt Nam; Tạp chitd chức Nhà nước , Hà Nội, bài 26/04/2021. hữps:/&awvvnvhetvs/detail/20572/Qayen-bst:cu--va-co-che-bao-dam-guyen-bat-cu:cua- -dan-o-Viet-Nam bến] "" Trương Dathoc Luật Ha Nội, Giáo trình Luật Hiến phip mage ngoài,Neb Công main din, H. 53 ' Tuyển, a Quốc tả nhân quyền là vin kiên quốc tế Gitra các quyền con người được Đại hội dong Liên Hop Quốc thông qua vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 ở Cung Chailot tai Paris, Pháp, 9 3. Nguyên vọng của nhân dân ia cơ sở quyền lực của chính quyền; nguyén vọng nay sẽ được thé hiên trong những cuộc bau cử đïnh ky.

bình dang và bỏ phiếu kin hoặc thông qua nhiững thủ tục bau cử tự do tương đương” Ở Việt Nam, quyên bau cử của công dân được quy định tại Điều 27 Hiền pháp năm 2013: “Công dan đủ mười tam trôi trở lên có quyền bau cử và đi hai mươi mốt tudi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Điệc thực hiện các quyền này do iuật đinh”. Thông qua quyên bau cử đại biểu Quốc hội, Hội đồng nhân dân, công dân có thé lựa chọn những đại biểu ưu tủ nhất đại diện cho ý chí, nguyên vọng của Nhân dân để thay mặt Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước. Theo lý thuyết đại điện của Locke, Rousseau và Montesquieu, quyên lực về nguyên tắc thuộc về nhân dan nhưng nhân dân không thé tự mình thực thi hết quyển lực của mình nên phải ủy thác cho những người đại diện dé thay mặt nhân dan thực hiên quyên lực của nhân dân.

Vi thé, quyền bau cử vả quyên ứng cử có một liên hệ mật thiết với nhau, la hai mat của một thé thông nhất đề thực thi quyên làm chủ của công dân trong xã hôi. Nếu quyền bâu cử trước hết là việc lựa chọn người đại diện của cử trị để ủy thác quyên luc, dé biến ý chí của nhân dân thanh các chủ trương, chính sách của nha nước thì quyền ứng cử là quyền có thé được bau vào các cơ quan quyền lực ở trung ương hay địa phương, các chức danh nha nước. Quyển nay được biểu hiện ở khả năng của công dan tự ra ứng cử hoặc dong y ra ứng cử Quyên ứng cử là quyên cơ bản của công dân khi đáp ứng đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật thì có thể thể hiện nguyện vong của mình được ứng cử ĐBQH, ứng cử DB HĐND. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Tổng tuyén cit là mét dip cho toàn thê quốc dan tự do lựa chon những người co tài, cô đức đề gảnh vác © Guảngavhư Alfredsson é Asbjim Eile(chủ biển), Tuyển ngôn quốc tỉ nhân quyền 1948, Nxb Lao đồng- Xã hôi,H 2011,tr 447 10 công việc nước nhà Trong cuộc Tổng tuyén cứ hễ là những người muốn io việc nước thì đều có quyền ra ứng cứ."12 Ứng cử chính là việc một người tự xét thay mình có đủ tiêu chuẩn, trình đô, năng lực có nguyện vong ghi tên vao danh sách ứng cử viên hoặc được cơ quan, tô chức giới thiệu dé đưa vào danh sách ứng cử viên dé có thé được bau làm đại biểu tai các cơ quan dân cử (Quốc hội, Hội đông nhân dân) hoặc làm lãnh đạo tại các cơ quan, tổ chức, doan thé.

Tóm lại, quyên bầu cử, ứng cử là cách thức chuyển hóa ý chí, chuyển giao quyền lực của nhân dân sang cho người đại diện thông qua những phiéu bau. Đây là cách thức cơ bản nhật để nhân dân tham gia vào việc xây dựng chính quyên, 1a cơ chế chuyên tải quyên lực hợp pháp của nhân dân cho hệ thống cơ quan đại diện theo quy định của pháp luật. Khái niệm bảo đảm quyền bau cir, quyền ứng cử của người dân tộc Quyên bau cử va ứng cử là một trong những quyên con người cơ bản trong lĩnh vực chính trị, được ghi nhận trong Công ước quốc tế về Xoa bỏ mọi hình thức Phân biệt Chủng tôc (CERD)!!. Việt Nam đã tham gia Công ước CERD từ năm 1082.

Ở Việt Nam, tat cả mọi cử tri, bao gồm cử tri của 53 DTTSE, déu được tao mọi điêu kiện thực hiện đây đủ những quyền này. Nội luật hoá quy định nay của Công ước CERD, Hiến pháp 2013 của Việt Nam đã quy định tại Điều 14: “J. Ởnước Công hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dan về chỉnh tri, đân sự. kinh lễ, văn hod, xã hội được công nhân, tôn trong.

bảo vệ, bdo dam theo Hién pháp va pháp luật 2. Quyền con người, quyền công đân chi có thé bt han chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vi ij do quốc phòng. an nình quốc gia, '' Vin phòng Quốc hội: Ký yến Hội thảo “Quá tinh hình thành, phát tiễn và vai trở của Quốc hội trong sự nghiệp đôi mới”, Hà Nội, 2001,r. 20 '* Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hinh thức phần biệthông tậ ((CERD) là một trong 5 Cổng trớc quốc tế cơ bản của Lên hợp guốc về nhân quyền, được thông qua vi để ngõ cho các quốc gia ký, phê chuẩn theo Nghị quyết số 2106 A COD ngày 21/12/1965 của Daihoi dong Liên hợp quốc„có hiệu bạc từngày 04/01/1969.

Việt Nam gia nhập Công tước này nim 1982. * Việt Nam có 54 din tộc „trong đồ có $3 dân tộc thiểu số,với trên l4 1 trêu người, điểm l4 17% dân số cả Tước. Cácc din tộc thiệu số cư trú thành cộng đồng, sinh sống dan xen với người (dần tộc đa số) ở 54 tĩnh, thánh pho , 503 huyện, 5.468 đơn vị hành chính cap x4, trong đó có 382 xã biển giới "1 frat tự an toàn xã hội, dao đức xã hội, sức khoẻ của công đông”. Tai Điều 16, Hiến pháp 2013 dé ra nguyên tac: “1.

Moi người đều bình đẳng trước pháp luật. Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính tri, dân sự. kinh tễ, vin hoá, xã hội”.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài khóa luận mang tiêu đề "Khóa luận về quyền bầu cử và ứng cử của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam" của tác giả Phí Thị Vân Anh, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Mai Thuyên tại Trường Đại Học Luật Hà Nội, tập trung vào việc bảo đảm quyền bầu cử của người dân tộc thiểu số tại Việt Nam. Bài viết phân tích các khía cạnh pháp lý liên quan đến quyền bầu cử và ứng cử, đồng thời nêu bật những thách thức mà các nhóm dân tộc thiểu số phải đối mặt trong quá trình tham gia vào các hoạt động chính trị. Độc giả sẽ nhận được cái nhìn sâu sắc về tình hình thực tiễn và các giải pháp cần thiết để nâng cao quyền lợi cho người dân tộc thiểu số trong lĩnh vực này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các vấn đề pháp lý liên quan, bạn có thể tham khảo các bài viết sau: Luận văn thạc sĩ về giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai tại huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, nơi đề cập đến quyền lợi của người dân trong việc khiếu nại liên quan đến đất đai, một vấn đề quan trọng đối với các cộng đồng dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, bài viết Nghiên cứu trách nhiệm của nhà nước về đất ở và đất sản xuất nông nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về trách nhiệm của nhà nước trong việc bảo vệ quyền lợi của các nhóm dân tộc thiểu số. Cuối cùng, bài viết Luận văn thạc sĩ về pháp luật giao dịch thương mại điện tử tại tỉnh Đắk Lắk có thể giúp bạn hiểu rõ hơn về các khía cạnh pháp lý trong thương mại, một lĩnh vực có thể ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế của các cộng đồng dân tộc thiểu số.