CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VA THUC TIEN CUA BAO DAM AN NINH QUOC GIA TRONG KHONG GIAN MANG Chương này đưa ra những cơ sở lý luận va thực tiễn của các mối đe dọa an ninh mạng đòi hỏi các quốc gia phải xây dựng chiến lược bảo đảm an ninh quốc gia trong không gian mạng. CHIẾN LƯỢC VÀ BIỆN PHÁP BẢO ĐÁM AN NINH QUOC GIA TRONG KHÔNG GIAN MẠNG CUA MỸ GIAI DOAN 2000-2020 Chương nay làm rõ quá trình xây dựng và thực tế triển khai chiến lược bao đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng của Mỹ trước năm 2000 và sau năm 2000 đến 2020. NHẬN XÉT VE CHIẾN LƯỢC, VIỆC TRIEN KHAI CHIEN LƯỢC AN NINH MẠNG CUA MỸ VÀ MOT SO GOI Ý VE GIAI PHAP BAO DAM AN NINH QUOC GIA TREN KHONG GIAN MANG O VIET NAM Chương 3 nhận xét về van đề triển khai chiến lược bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng của Mỹ và các tác động của nó đến quan hệ quốc tế.
Từ đó, gợi ý một số giải pháp đối với trường hợp của Việt Nam trong vân đê này. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN CUA BAO DAM AN NINH QUOC GIA TRONG KHONG GIAN MANG 1. Cơ sở lý luận của hoạt động bảo đảm an ninh quốc gia trên không gian mạng 1. Khái niệm an ninh quốc gia Trước Chiến tranh Lạnh, những quan điểm về an ninh quốc gia (ANQG) van tập trung vào các mối đe dọa quân sự và vấn đề bảo vệ quốc phòng.
Những quan điểm truyền thống về ANQG chủ yếu thảo luận các phương thức, cách thức dé bảo vệ đất nước khỏi những mối đe dọa quân sự từ bên ngoài. Tuy nhiên, qua thời gian thì sự thay đổi và phát triển của quan hệ quốc tế đã có những tác động nhất định đến những quan điểm này, khiến cho khái niệm về ANQG ngày càng được hiểu theo nghĩa rộng hơn, toàn diện hơn. Khái niệm an ninh quốc gia (ANQG) xuất hiện vào thế kỷ 17 kể từ Chiến tranh Ba mươi năm (1618-1648) ở Châu Âu và Cuộc Nội chiến ở Anh (1642-1651). Năm 1648, Hòa ước Westphalia tạo ra những ý tưởng mới về an ninh quốc gia, theo đó các quốc gia có chủ quyền không chỉ kiểm soát các vẫn dé trong nước mà cả các van dé an ninh bên ngoài.
Đến cuối thế kỷ 20, Chiến tranh Lạnh giữa hai nước Mỹ - Liên Xô tiếp tục củng cố những quan điểm hiện đại về khái niệm an ninh quốc gia. Cuộc cạnh tranh giữa hai cường quốc trên gần như tất cả các lĩnh vực: kinh tế, quân sự, đào tạo khoa học — kỹ thuật, nghiên cứu về không gian,. cho thấy an ninh quốc gia không chỉ bao gồm an ninh về quân sự mà còn có an ninh trong các lĩnh vực khác: kinh tế, môi trường, xã hội, chính trị và văn hóa. Chính vì vậy, những quan điểm về an ninh quốc gia trước và sau thời điểm này cũng có những khác biệt.
13 Các quan điểm đầu tiên về khái niệm này xuất hiẹn ở Mỹ. Trước 1945, theo Walter Lippmann “một quốc gia “có” an ninh khi không phải hy sinh lợi ích hợp pháp của mình dé tránh né chiến tranh, và khi bị thách thức, vẫn có thể duy trì an ninh bằng chiến tranh” [Romm, Joseph J. Quan điểm mang mau sắc của chu nghĩa hiện thực này có thé được xem như đại diện cho cách nhìn nhận và tiếp cận phổ biến của giới chuyên gia lẫn những người quan tâm tới chính trị trong thời gian này, đó là khi đề cập đến “an ninh quốc gia” là bàn về “an ninh quân sự” (“the term national security has meant by and large - military security) [Romm, Joseph J. Nhưng những năm sau 1945, ANQG đã được hiểu với nghĩa rộng hơn rất nhiều; không chỉ đơn thuần là việc “bảo vệ đất nước” nữa, mà là “bảo vệ các giá tri”, không chỉ ngăn chặn mối đe dọa về quân sự ma là ngăn chan tất cả các mối de doa ở tat cả lĩnh vực từ kinh tế - xã hội, đến văn hóa - chính trị va môi trường.
Một quan điểm rất đáng chú ý của Arnold Wolfers (nhà khoa học chính trị người Mỹ gốc Thụy Sĩ, một đại diện của lý thuyết hiện thực trong quan hệ quốc tế) năm 1962 cho răng: “An ninh quốc gia: một cách khách quan có nghĩa là không có mối đe dọa nào đối với các gid tri của một quốc gia và một cách chủ quan có nghĩa là không tôn tại những nỗi lo sợ rằng các giá trị đó sẽ bị tấn công” [Romm, Joseph J. Năm 1974, một tướng cấp cao của quân đội Hoa Kỳ lúc bấy giờ là Maxwell D. Taylor đã nêu lên một quan điểm rất đáng chú ý về ANQG trong bài viết “The Legitimate Claims of National Security” (tạm dịch: Những luận điệu xác đáng về An ninh Quốc gia) như sau: “Các mối đe dọa nghiêm trọng nhất đối với đất nước này (Mỹ) là những đe dọa phi quân sự, bao gồm khủng hoảng năng lượng, bùng né dân số và tăng trưởng sinh thái chậm, chi phí sản 14 xuất công nghiệp ngày càng cao, sự thậm hụt mới trong thanh toán quốc tế và lạm phát gia tăng” [Taylor, M. Năm 1977, trong bài viết "Xác định lại An ninh Quốc gia”, Lester Brown, Chủ tịch Viện Worldwatch, đã nhận định rằng cuộc khủng hoảng năng lượng, lạm phát, di cư, sự bấp bênh trong an ninh lương thực và các yếu tố liên quan khác như nạn phá rừng, xói mòn đất, biến đổi khí hau, và cả hiệu ứng nhà kính là những mối đe dọa đối với an ninh quốc gia [Romm, Joseph J.
Đây cũng là giai đoạn mà thế giới chứng kiến sự sa lầy và sau đó là thất bại của Mỹ trong cuộc chiến xâm lược Việt Nam vào những năm 70 của thế kỷ trước. Lúc này lạm phát trong nước tăng cao, các cường quốc mới nổi ở Châu Âu, Nhật Bản có tiềm lực kinh tế ngày càng lớn, và không thể không nhắc đến cuộc khủng hoảng dầu mỏ lần thứ nhất năm 1973. Những sự kiện đó đã tác động lớn đến quan điểm của giới chính trị về ANQG. Tiếp đó là giai đoạn mà “Chiến tranh Lạnh” đang dan đi vào hồi kết — những năm cuối thập niên 80 thé kỷ trước.
Năm 1983, Richard Ullman đã đưa ra một quan điểm rất đáng chú ý về ANQG: “Mối de dọa đối với an ninh quốc gia là một hành động hoặc một chuỗi các sự kiện mà (1) đe doạ nghiêm trọng, và trong một thời gian tương đối ngắn, làm suy giảm chất lượng cuộc sống người dân của một quốc gia, hoặc (2) đe dọa nghiêm trọng nhăm thu hẹp phạm vi lựa chọn chính sách của chính phủ một quốc gia hoặc các tổ chức phi chính phủ tư nhân (cá nhân, nhóm, tập đoàn) trong quốc gia đó” [Romm, Joseph J. Năm 1990/1991, trong Tạp chí Ngoại giao số mùa đông, Giám đốc Chương trình Ngoại giao Kinh doanh Quốc tế, Trường Đối ngoại thuộc Đại học Georgetown - Theodore Moran đã liệt kê 6 nhiệm vụ chính mà Hoa Kỳ cần phải chú ý trong chính sách an ninh quốc gia những năm 1990: “() 15 khuyến khích sự ổn định và cải cách ở Liên Xô; (ii) duy trì mối quan hệ hợp tác giữa Mỹ và Nhật; (iii) tránh các lỗ hồng từ quá trình toàn cầu hóa của các cơ sở công nghiệp quốc phòng Mỹ; (iv) giảm sự phụ thuộc vào dầu mỏ từ Vinh Ba Tư; (v) điều tiết sự tác động của cuộc khủng hoảng nợ kéo dai lên Thế giới thứ Ba; (vi) hạn chế thiệt hại từ buôn bán ma túy., 1990/1991] Đến đầu thé kỷ 21, có sự thay đổi của hệ thống quốc tế, xuất hiện các mối đe dọa mới từ các lực lượng khủng bố, biến đổi khí hậu, tắn công mạng khiến cho Mỹ bắt buộc phải tiếp cận với khái nệm ANQG một cách toàn diện hơn. Một cách khái quát nhất, ANQG nhìn từ góc độ của Mỹ là sự an toàn của nước Mỹ, của người dân Mỹ trước các mối đe dọa từ cả bên ngoài lẫn bên trong, bao gồm các mối đe dọa truyền thống và phi truyền thống, từ chiến tranh, khủng bố đến các mối đe dọa đến từ khủng hoảng kinh tế, tình trạng nhập cư, đe dọa trên không gian và đe dọa trên không gian mạng. Ngoài ra, tác giả cũng tìm hiểu thêm về quan điểm của các nước khác như Anh (nước đồng minh), Trung Quốc (nước đối đầu), Việt Nam (quan hệ đối tác toàn diện).
Có thé đề cập đến quan điểm của Anh về an ninh quốc gia. Trong bản Chiến lược An ninh Quốc gia năm 2008, chính phủ Anh đề cập “trong quá khứ, nhà nước là trọng tâm truyền thống của các chính sách đối ngoại, chính sách quốc phòng và an ninh; và an ninh quốc gia được hiểu là đối phó với việc bảo vệ nhà nước và lợi ích quan trọng của nhà nước khỏi các cuộc tấn công từ các quốc gia khác. Trong những thập kỷ gần đây, quan điểm của chúng tôi về an ninh quốc gia đã mở rộng để bao gồm các mối đe dọa đối với từng công dân và lối sống của chúng ta, cũng như sự liêm chính và lợi ích của nhà nước. Đó là ly do tại sao chiến lược này cũng liên quan đến tội phạm xuyên quốc gia, đại dịch và lũ lụt - những yếu tô không phải là một phan của 16 ý tưởng truyền thống về an ninh quốc gia, nhưng lại là những thách thức rõ ràng có thể ảnh hưởng đến số lượng lớn công dân của chúng tôi, và đòi hỏi phải có thêm các phản ứng tương tự như các mối đe dọa an ninh truyền thống, bao gồm cả khủng bố.” [Cabinet Office of UK, 2008, tr.
Có thê thấy quan điểm của Anh về ANQG đã mở rộng hơn, tiếp cận đến nhiều vấn đề hơn và có điểm tương đồng với quan điểm của Mỹ: đó là nhắc đến các mối đe dọa ảnh hưởng đến người dân, đến lối sống, sự an toàn của người dân và đặc biệt là cũng quan tâm đến mối đe dọa từ khủng bố. Đối với Trung Quốc, năm 2014, Trung Quốc thành lập Ủy ban An ninh Quốc gia Trung Quốc (FRE ALE j123-National Security Commission of the Chinese Communist Party). Dưới sự chỉ đạo của ông Tập Cận Bình và Uy ban An ninh Quốc gia Trung Quốc, ANQG được xác định bao gồm 16 bộ phận: quân sự, lãnh thé, công nghệ, sinh thai, xã hội, an ninh vùng cực, an ninh mạng, an ninh không gian, an ninh văn hóa, chính tri, kinh tế, sinh học, an ninh vùng biển, an ninh tài nguyên, an ninh hạt nhân và an ninh liên quan đến các lợi ích ở nước ngoài.