Chương I: Cơ sở lý luận về chọn mẫu trong kiểm toán Báo cáo tài chính. »> Chương II: Phương pháp chọn mẫu trong kiểm toán Báo cáo tài chính đo Công ty Kiểm toán Việt Nam Trách nhiệm Hữu hạn thực hiện. >» Chương III: Phương hướng và giải pháp nâng cao hiệu quả của chọn mẫu kiểm toán trong kiểm toán Báo cáo tài chính do Công ty Kiểm toán Việt Nam Trách nhiệm Hữu hạn thực hiện. Phuong phip chon mau kiểm toán trong kiểm todn BETE do CACO thuchiin.
3 Chuyin dé thue tap tét nghiép. Quée Guyin — Kiim toin 42A. Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Chuyên để là các phương pháp chung của phép duy vật biện chứng, phương pháp toán học, xác suất thống kê, phương pháp nghiệp vụ kế toán, kiểm toán, phương pháp trình bày tổng hợp và phân tích. Đối tượng nghiên cứu là phương pháp chọn mẫu được sử đụng trong kiểm toán Báo cáo tài chính, Do hạn chế về mặt thời gian và trình độ nên bài viết không thể tránh khỏi những thiếu sót.
Em rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô, các anh chị Kiểm toán viên (KTV) và các bạn bè đề bài viết được tốt hơn. Cuối cùng, em xin chân thành cảm ơn Thầy Phan Trung Kiên, anh Vũ Bình Minh - Chủ nhiệm kiểm toán, cùng tập thể cán bộ nhân viên Công ty Kiểm toán Việt Nam TNHH đã tạo điều kiện hướng dẫn và giúp đỡ em hoàn thành bản chuyên đề này. Hà Nội, tháng 5 năm 2004. Sinh viên Đồ Quôc Tuyên CHUONG I.
CO SO LY LUAN VE CHON MAU TRONG KIEM TOAN BAO CAO TAI CHINH I. Chọn mẫu kiếm toán trong qui trình kiểm toán Báo cáo tài chính 1. Các khái niệm cơ bản về chọn mẫu Chọn mẫu kiếm toán: là quá trình chọn một nhóm các khoản mục hoặc đơn vị (gọi là mẫu) từ một tập hợp các khoản mục hoặc đơn vị lớn (gọi là tổng thể) và sử dụng các đặc trưng của mẫu để suy rộng cho đặc trưng của toàn bộ tổng thể. Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam, Chuẩn mực số 530 “Lấy mau Phuong pháp chọn nấu kiểm toán trong kiểm toán 210C do (0cEÓÓ thực hiện.
4 Chuyin dé thue tap tét nghiép. Quée Guyin — Kiim toin 42A. kiêm toán và các thú tục phân tích khác” thì chọn mẫu kiêm toán hay lay mau kiểm toán là áp dụng các thủ tục kiểm toán trên số phần tử ít hơn 100% tổng số phần tử của một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ, sao cho mọi phần tử đều có cơ hội để được chọn. Lấy mẫu kiểm toán sẽ giúp kiểm toán viên thu thập và đánh giá bằng chứng kiểm toán về các đặc trưng của các phần tử được chọn, nhằm hình thành hay củng cố kết luận về tông thể.
Lẫy mẫu kiểm toán có thể theo phương pháp thống kê hoặc phi thống kê. Theo Chuẩn mực số 530 “Lay mẫu kiểm toán và các thú tục phân tích khác”, Hệ thông Chuẩn mực kiêm toán quốc tế, kiểm tra chọn mẫu trong kiểm toán có nghĩa là áp dụng thủ tục kiểm toán chỉ trên một phần các yếu tố của số dư một tài khoản, một loại nghiệp vụ cho phép kiểm toán viên thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán trên một số mặt của các yếu tố đã được chọn ra, nhăm đạt đến đến một kết luận hoặc hồ trợ cho việc rút ra kêt luận. Tóm lại, chọn mẫu kiểm toán là việc xác định ra các phần tử của một tông thể để từ đó đánh giá mẫu được lựa chọn nhăm thu thập băng chứng kiểm toán làm cơ sở cho việc đưa ra ý kiên kiêm toán vê Báo cáo tài chính. Tổng thế là tập hợp bao gồm tất cả các phần tử hoặc đơn vị thuộc đối tượng nghiên cứu.
Cụ thể, trong kiểm toán Tổng thể được hiểu là toàn bộ dữ liệu mà từ đó kiểm toán viên chọn mẫu để có thể đi đến một kết luận. Ví đụ, tất cả các phần tử trong một số dư tài khoản hay một loại nghiệp vụ cầu thành một tống thế. Một tông thể có thê được chia thành các nhóm hoặc các tổng thể con và mỗi nhóm được kiểm tra riêng. Trong trường hop này, thuật ngữ “tông thể” bao hàm cả thuật ngữ “nhóm”.
Mỗi một phẩn tử trong tông thể được gọi là đơn vị tổng thể; và khi chọn mẫu kiểm toán, mỗi đơn vị mẫu được lựa chọn ra được gol la don vi mẫu, đơn vị mẫu có thể là một đơn vị tiền tệ hoặc một đơn vị hiện vật tập hợp các đơn vị mẫu được gọi là mộf mẫu. Van đề cơ bản của chon mẫu là phải chọn được mẫu đại diện. Mẫu đại điện là mẫu mang đặc trưng của tống thể mà mẫu được chọn ra. Rui ro chọn mẫu: là khả năng mà kết luận của Kiểm toán viên dựa trên mẫu khác với kết luận mà Kiểm toán viên đạt được nếu kiểm tra toàn bộ tổng thể với cùng một thủ tục.
Có hai loại rủi ro chọn mẫu: > Rui ro khi kiém toán viên kết luận rủi ro kiểm soát thấp hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc không có sai sót Phuong phip chon mau kiểm toán trong kiểm todn BETE do OACO thuchiin. 5 Chuyin dé thue tap tét nghiép. Quée Guyin — Kiim toin 42A. trọng yêu trong khi thực tế là có (đối với thử nghiệm cơ bản).
Loại rủi ro này ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của cuộc kiểm toán vì nó thường dẫn đến các công việc bổ sung dé chứng minh rằng các kết luận ban đầu là không đúng. > Rủi ro khi kiểm toán viên kết luận rủi ro kiểm soát cao hơn mức rủi ro thực tế (đối với thử nghiệm kiểm soát) hoặc có sai sót trọng yếu trong khi thực tế không có (đối với thứ nghiệm cơ bản). Loại rủi ro này ảnh hưởng đến hiệu quả của cuộc kiểm toán vì nó thường dẫn đến các công việc bổ sung để chứng minh bằng các kết luận ban đầu là không đúng. Rui ro không do chọn mẫu: là việc Kiểm toán viên đưa ra những kết luận sai lầm không phải đo lỗi chọn mẫu mà do các yếu tố không liên quan trực tiếp đến chọn mẫu.
Do đánh giá rủi ro tiềm tàng không đúng: đánh giá không đúng về rủi ro kiểm soát; lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công việc kiểm toán không hợp lý. Cụ thế: > Đánh giá rủi ro tiểm tàng không ding (IR). Một kiểm toán viên ngay từ đầu đã quan niệm sai lầm rằng chỉ có rất ít những sai phạm trọng yếu trong đối tượng kiêm toán thì sẽ có khuynh hướng giảm thiêu công việc và do đó không phát hiện được các sai phạm. > Đảnh giá sai về rủi ro kiếm soát (CR).
Một kiểm toán viên quá lạc quan tin tưởng vào khả năng của hệ thống kiểm soát nội bộ có thể phát hiện, ngăn chặn và điều chỉnh những sai phạm hay những điều bất thường cũng sẽ có khuynh hướng giảm khối lượng công việc và vì thế cũng sẽ dẫn tới những hậu quả như trên. > Lựa chọn các thủ tục kiểm toán không thích hợp và thực hiện công việc kiểm toán không hợp lý hay mắc sai lam trong quá trình thực hiện (DR). Kiểm toán viên có thể lựa chọn các thủ tục không phù hợp với mục tiêu kiểm toán (chắng hạn, tiến hành xác minh các khoản phải thu đã được ghi số trong khi mục tiêu là phát hiện các khoản phải thu chưa được ghi số), Phuong phip chon mau kiểm toán trong kiểm todn BETE do OACO thuchiin. 6 Chuyin dé thue tap tét nghiép.
Quée Guyin — Kiim toin 42A. hoặc đã chọn thủ tục thích hợp nhưng việc triên khai thủ tục đó lại để xảy ra sai phạm. Rủi ro ngoài chọn mẫu cũng là khả năng đưa ra một quyết định sai lầm. Nó cũng tồn tại trong tất cả các phương pháp chọn mẫu.
Kiểm toán viên có thể kiểm soát được rủi ro ngoài chọn mẫu và giảm rủi ro ngoài chọn mẫu tới mức độ có thé chấp nhận được thông qua việc lập kế hoạch cần thận và giám sát chặt chẽ việc thực hiện kê hoạch cũng như các nhân viên tiên hành kiêm toán. Vị trí của chọn mẫu kiểm toán trong qui trình kiểm toán Kiểm toán là một hệ thống có chức năng xác minh và bày tỏ ý kiến về thực trạng tài chính. Kiểm toán tài chính là hoạt động đặc trưng nhất của kiêm toán bởi nó chứa đựng đầy đủ “sắc thái kiêm toán” ngay từ khi nó ra đời cũng như trong quá trình phát triển. Đặc trưng cơ bản đó của kiểm toán tài chính bắt nguồn từ chính đối tượng kiểm toán tài chính.
> Đối tượng kiểm toán tài chính là Bảng khai tài chính. Bộ phận quan trọng của những Bảng khai này là Báo cáo tài chính. Theo định nghĩa trong Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 ““Ä#fực điêu và nguyên tắc cơ bán chỉ phối kiểm toán Báo cáo tài chỉnh”: “Báo cáo tài chính là hệ thong báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận) phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn vị”. Ngoài ra, Báng khai tài chính còn bao gồm những bang ké khai có tính chất pháp lý khác như Bảng kê khai tài sản cá nhân, bảng kê khai tài sản đặc biệt.
> Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 “Ä#ực điêu và nguyên tác cơ bản chỉ phối kiểm toán Báo cáo tài chính” mục tiêu của kiểm toán báo cáo tài chính là giúp cho kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không? Qui trình kiêm toán là một tập hợp các bước cơ bản nhăm tô chức kiêm toán của cuộc kiêm toán. Các bước cơ bản bao gôm: Phuong phip chon mau kiểm toán trong kiểm todn BETE do CACO thuc hiin. 7 Chuyin dé thue tap tét nghiép. Quée Guyin — Kiim toin 42A.
- Bước I: Chuân bị kiêm toán bao gôm tât cả các công việc khác nhau nhằm tạo được cơ sở pháp lý, kế hoạch kiểm toán cu thé va các điêu kiện vật chât cho công tác kiêm toán. - Bước 2: Thực hành (thực hiện) kiểm toán bao gồm tất cả các công việc thực hiện chức năng xác minh của kiêm toán dé khang định được thực chất của đối tượng và khách thể kiểm toán cu thé.