Mở đầu Chương 2: Tổng quan Chương 3: Vật liệu và phương pháp Chương 4: Kết quả và bàn luận Chương 5: Kết luận và kiến nghị 11 CHƯƠNG 2. Tổng quan về đinh lăng 2. Mô tả thực vật Tên khoa học: Polyscias fruticosa (L. Tên thường gọi: Đinh lăng, đinh lăng lá xẻ, cây gỏi cá, nam dương lâm, nhân sâm đất.
Tên đồng nghĩa: Panax fruticosus, Nothopanax fruticosus, Aralia fruticosa, Tieghtôiopanax fruticosus. Tên nước ngoài: Ming Aralia, Gingsen free (Anh); Polyscias (Pháp). Đinh lăng là cây gỗ nhỏ, cao 0,5-2m. Thân nhẵn, không gai, ít phân nhánh, mang nhiều vết sẹo to màu xám, các nhánh non có nhiều lỗ bì lồi.
Lá kép mọc so le, có bẹ, phiến lá xẻ 3 lần lông chim, mép có răng cưa không đều, chóp nhọn, lá dài 20-40cm. Lá chét có dạng màng, phần nhiều khía răng cưa hay chia thùy. Lá chét và các loại lá đều có cuống, có mùi thơm khi vò nát. Mô tả thực vật của cây đinh lăng Giới (Kingdom) Thực vật (Plantae).
fruticosa Nguồn: https://en. Cây đinh lăng 2. Nguồn gốc và phân bố Đinh lăng lá xẻ (Polyscias fruticosa (L.) Harms, Araliaceae) có nguồn gốc ở vùng đảo Polynesie, Thái Bình Dương, sau này tác dụng của cây đinh lăng trở nên phổ biến và được trồng ở Malaysia, Indonesia, Campuchia, Lào,… Ở Việt Nam, lá đinh lăng là dược liệu quý được sử dụng phổ biến trong việc hỗ trợ điều trị các bệnh như viêm nhiễm, xơ vữa động mạch, tiểu đường,. Cây đinh lăng là cây lâu năm, ưa ẩm, ưa sáng, có khả năng chịu hạn.
Cây không chịu đựng được úng hạn. Cây có biên độ sinh thái rộng, phân bố trên khắp các vùng sinh thái, có thể phát triển trên nhiều loại đất nhưng tốt nhất là đất pha cát. Cây phát triển mạnh khi nhiệt độ dưới 25oC (từ giữa thu đến cuối xuân). Cây đinh lăng thích hợp ở những vùng khí hậu nhiệt đới có hai mùa rõ rệt và thường được trồng chủ yếu ở các tỉnh miền núi phía Bắc.
Tuy nhiên về yêu cầu nhiệt độ và lượng mưa cây đinh lăng cũng có thể thích hợp ở các tỉnh miền nam như Tây Nguyên, Đông Nam Bộ. Các tỉnh Đồng Nai, Đắk Lắk đều có thể thích hợp để trồng cây đinh lăng. Các hợp chất có hoạt tính sinh học trong đinh lăng Các hợp chất có hoạt tính sinh học phân bố khắp mọi bộ phận của cây đinh lăng. Vỏ rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alcaloid, vitamin B1, B2, B6, vitamin C, 20 loại acid amin, glycosid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng và 21% đường.
Trong lá chứa saponin triterpenoid (1.65%), acid oleanolic [1] Trong thân củ đã tìm thấy có các alkaloid, glucoside, saponin, flavonoid, tanin, vitamin B1 các acid amin trong đó có lysine, cystein, và methionine… là những acid amin không thể thay thế được. Đặc điểm thực vật học Đinh lăng (hay còn gọi là cây gỏi cá) là một loại cây nhỏ, thân nhẵn, không có gai, cao từ 0,8 - 1,5 m và phân nhánh nhiều. Lá sum suê quanh năm, lá kép 3 lần xẻ lông chim, mọc so le, có bẹ, dài từ 20 - 40 cm, không có lá kèm rõ. Lá chét có cuống dài 3 - 10 mm, phiến lá kép có thùy sâu và mép có răng cửa không đều, vò lá ra có mùi thơm.
Cụm hoa là một khối hình chùy ngắn 7 - 18 mm, gồm nhiều tá đơn hợp lại, mỗi tán mang nhiều hoa nhỏ có cuốn ngắn, hoa 5 cách trắng hình trứng dài 2mm, có 5 nhụy với chỉ nhụy gầy, bầu hạ 2 ngăn có dìa trắng nhạt. Quả dẹt màu trắng bạc, dài và rộng 3 - 4 mm, dày 1 mm, có vòi tồn tại. Cây ra hoa từ tháng 4 đến tháng 7 hàng năm. [2] 13 Cây đinh lăng thường được trước sân nhà hay đình, chùa, bệnh viện để làm cảnh, gia vị, làm thuốc trong dân gian.
Các hợp chất có hoạt tính sinh học trong đinh lăng Các hợp chất có hoạt tính sinh học phân bố khắp mọi bộ phận của cây đinh lăng. Vỏ rễ và lá đinh lăng chứa saponin, alcaloid, vitamin B1, B2, B6, vitamin C, 20 loại acid amin, glycosid, phytosterol, tanin, acid hữu cơ, tinh dầu, nhiều nguyên tố vi lượng và 21% đường. Trong lá chứa saponin triterpenoid (1. [3] [4] Trong thân củ đã tìm thấy có các alkaloid, glucoside, saponin, flavonoid, tanin, vitamin B1 các acid amin trong đó có lysine, cystein, và methionine… là những acid amin không thể thay thế được.
Hoạt chất trong rễ đinh-lăng giúp tăng trí nhớ cho não bộ, có tác dụng tăng cường sinh lực, dẻo dai, tăng cường sức chịu đựng của cơ thể, một số đơn vị dược trong nước đã ứng dụng hoạt chất trong rễ đinh lăng để làm thuốc bổ não. [5] Sheng và Sun đã xem xét ý nghĩa lâm sàng của Saponin triterpene trong dự phòng và điều trị các bệnh về chuyển hoá và mạch máu. Các đặc tính dược phẩm được khám phá, đặc biệt là thuốc chống ung thư đã được tăng cường tìm kiếm. [6] [7] Bên cạnh đó, saponin đã được phát hiện khoa học có tính chất dược phẩm của chất chống oxy hoá, các hoạt động bổ trợ miễn dịch và các hoạt động huyết thanh.
[8] [9] Một nghiên cứu gần đây trên cây đinh lăng bởi Võ Duy Hồ Nam và các đồng nghiệp, đã chiết xuất saponin trong oleanolic axit từ lá, và polyacetylenes từ củ, có khả năng kháng khuẩn và kháng nấm. Giá trị sử dụng của cây đinh lăng 2. Theo y học cổ truyền. Trong y học cổ truyền Việt Nam, Hải Thượng Lãng Ông Lê Hữu Trác đã dùng rễ đinh lăng sao vàng, khử thổ, sắc cho phụ nữ uống sau khi sinh đẻ để chống đau dạ con và làm tăng tiết sữa cho con bú.
Rễ đinh lăng có vị ngọt, hơi đắng, tính mát, có tác dụng huyết mạch, bồi bổ khí huyết. Lá đinh lăng có vị nhạt, hơi đắng có tác dụng bổ ngũ tạng. Trong dân gian, đinh lăng thường dùng để trị ho ra máu, chữa tắc tai sữa, làm mát huyết, lợi tiểu, chữa mẫn ngứa, kiết lỵ, ho suyễn,… Lá đinh lăng cũng được dùng nấu canh với thịt, cá để bồi bổ cho sản phụ, người già hoặc người ốm mới dậy. Thân và cành dùng chữa phong thấp, đau lưng [2] [5] 14 2.
Theo y học hiện đại Năm 1961, các khoa dược lí, dược liệu và giải phẫu bệnh lý Viện y học quân sự Việt Nam đã nghiên cứu tác dụng của đinh lăng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể và một số tác dụng khác: [2] Nước sắc rễ đinh lăng có tác dụng làm tăng sức dẻo dai của cơ thể trên thí nghiệm cấp tính tương tự như nhân sâm. Với liều 0,1 mL cao lỏng đinh lăng cho 20g thể trong sống làm giảm hoạt động của chuột nhắt trắng. Đinh lăng tác dụng trực tiếp lên cơ tim ếch, cô lập (theo phương pháp Straub) với liều nhất định làm giảm trương lực cơ tim, làm tim co bóp yếu và thưa, tiến tới tim ngừng đập. Dung dịch nước 0,2 - 1% rễ đinh lăng gây co mạch tai thỏ cô lập theo phương pháp Kravkov.
Với liều 0,5 mL dung dịch cao đinh lăng 100 - 200% trên 1 kg thể trọng tiêm tĩnh mạch vành tai đều tăng cường hô hấp về biên độ và tần số: Huyết áp nhất thời hạ xuống. Trên tử cung tại chỗ, với liều 1 mL dung dịch cao đinh lăng 100% cho 1 kg thể trọng tiêm tĩnh mạch và vành tai làm tăng co bóp tử cung nhẹ. Đinh lăng có tác dụng tăng tiết niệu gấp trên 5 lần so với bình thường với liều uống 2 mL dung dịch đinh lăng 100% cho 100g thể trọng (Thí nghiệm trên chuột bạch Trung Quốc). Liều độc: đinh lăng ít độc, so với nhân sâm càng ít độc hơn.
Liều độc tiêm phúc mạc DL50 của đinh lăng là 32,9 g/kg trong khi đó DL50 của nhân sâm là 16,5 g/kg, của Ngũ gia bì Liên Xô cũ (Eleutherococcus) là 14,5 g/kg. Cho uống với liều 50 g/kg thể trọng chuột vẫn sống bình thường. Độc tính trường diễn thấy xung huyết ở gan, tim, phổi, dạ dày, ruột, biến loạn dinh dưỡng tim, gan, thận. Trước khi chết có hiện tượng ỉa lỏng, xù lông, mệt mỏi, kém ăn, sụt cân.
Làm tăng sức đề kháng của chuột đối với tác hại của bức xạ siêu cao tần và thấy có tác dụng kéo dài thời gian sống của chuột hơn so với một số thuốc như ngũ gia bì, đương qui, ba kích. Tác dụng này có thể là do tính chất bổ chung nhưng còn có thể là do cơ chế điều nhiệt của đinh lăng. Ngô Ứng Long và Xavaev (Liên Xô cũ) đã cùng nhận thấy đinh lăng có tác dụng tốt đối với các nhà du hành vũ trụ khi luyện tập trong tư thế tĩnh, đầu dốc ngược. Thực 15 nghiệm trên người, viên bột rễ đinh lăng làm tăng khả năng chịu đựng của bộ đội, vận động viên thể dục, thể thao trong các nghiệm pháp gắng sức cũng như luyện tập.
Bởi vậy, các nhà nghiên cứu Nga gọi các chế phẩm này là "Thuốc sinh thích nghi" (Adaptogen), đã được nước ta và Liên Xô cũ sử dụng trong chương trình vũ trụ Itercosmos. Một số bài thuốc y học cổ truyền Bài thuốc y học cổ truyền như: [2] [11] Theo kinh nghiệm dân gian, lá đinh lăng được dùng chống bệnh co giật cho trẻ em, lấy lá non và lá già phơi khô đem lót vào gối hoặc trải giường cho trẻ nằm. Lá non đinh lăng còn được dùng làm rau ăn sống, làm gỏi cá.và cũng là vị thuốc bổ tốt cho cơ thể. Chữa mệt mỏi: Rễ đinh lăng phơi khô, thái mỏng 0,5g thêm 100 mL nước, đun sôi trong 15 phút, chia 2-3 lần uống trong ngày.
Bồi bổ cho sản phụ: Phụ nữ sau khi sinh, người ốm dậy nên dùng lá đinh lăng nấu canh với thịt, cá để bồi bổ có tác dụng gần giống như nhân sâm. Thực hiện bài thuốc này bạn dùng khoảng 200g lá đinh lăng rửa sạch, khi canh thịt nấu sôi cho đinh lăng đun vừa chín tới, ăn nóng, giúp cơ thể sảng khoái, đẩy các độc tố ra ngoài. Thông tia sữa, căng vú sữa: Phụ nữ đang nuôi con đôi khi tự nhiên mất sữa có thể lấy rễ đinh lăng 40g, gừng tươi 3 lát, đổ 500mL nước sắc còn 250 mL. Chia làm 2 lần uống trong ngày, uống khi thuốc còn nóng.
Bồi bổ cơ thể, ngừa dị ứng: Lá đinh lăng tươi từ 150 – 200g, nấu sôi khoảng 200mL nước. Cho tất cả lá đinh lăng vào nồi, đậy nắp lại, sau vài phút, mở nắp và đảo qua đảo lại vài lần. Sau 5 – 7 phút chắt ra để uống nước đầu tiên, đổ tiếp thêm khoảng 200mL nước vào để nấu sôi lại nước thứ hai.