phần Mở đầu và Kết luận, phần Nội dung chính của Luận văn có cấu trúc gồm 3 chương: Chƣơng 1: Bản sắc dân tộc trong thơ Nùng thời kỳ hiện đại. Chƣơng 2: Mã Thế Vinh - Nhà thơ Nùng xứ Lạng. Chƣơng 3: Nghệ thuật thơ Mã Thế Vinh. Đóng góp của luận văn Nếu đề tài thực hiện thành công thì đây sẽ là công trình nghiên cứu đầu tiên, phân tích một cách có hệ thống và khá toàn diện về đặc điểm và thành tựu thơ ca trong sự nghiệp sáng tác của tác giả Mã Thế Vinh - một nhà thơ dân tộc 9 Nùng tiêu biểu của thơ ca DTTS Việt Nam hiện đại.
Từ đó khẳng định những đóng góp đáng trân trọng của nhà thơ đối với văn học Lạng Sơn nói riêng, với văn học các DTTS Việt Nam nói chung. Kết quả của luận văn cũng sẽ là một tài liệu tham khảo phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy văn học địa phương tỉnh Lạng Sơn. 10 Chƣơng 1 BẢN SẮC DÂN TỘC TRONG THƠ CA NÙNG THỜI KỲ HIỆN ĐẠI 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn 1.
Khái niệm Bản sắc văn hóa dân tộc và Bản sắc văn hóa dân tộc trong thơ ca các dân tộc thiểu số Việt Nam * Khái niệm: Bản sắc dân tộc và Bản sắc văn hóa dân tộc. Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một vấn đề rất quan trọng đối với các dân tộc trên thế giới, đặc biệt là trong thời kỳ hiện đại. Bởi chính bản sắc dân tộc đảm bảo cho dân tộc tồn tại, phát triển qua tất cả sự biến động của lịch sử. Nhờ bản sắc dân tộc chúng ta biểu lộ được một cách toàn vẹn sự hiện diện của mình trong giao lưu với quốc tế.
Việc giữ gìn bản sắc dân tộc là góp phần chống lại nguy cơ đồng hóa về văn hóa trong xu hướng hội nhập hiện nay. Từ điển tiềng Việt của Hoàng Phê có định nghĩa: “Bản sắc là màu sắc, là tính chất riêng, tạo thành đặc điểm chính” [25, tr. Xét nghĩa từ nguyên tiếng Hán thì bản sắc là màu gốc chưa bị pha trộn, là sắc thái hồn nhiên tự nhiên chưa bị đẽo gọt, trang điểm tỉa tót. Ở góc độ văn hóa, lịch sử dân tộc, triết học thì như cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã khẳng định: “Bản sắc là nét riêng biệt, độc đáo của một dân tộc thể hiện trong một nền văn hóa, nghệ thuật, trong phong tục tập quán, trong đời sống muôn màu của dân tộc.
Còn nhà nghiên cứu Hoàng Trinh thì chỉ rõ: “Bản sắc dân tộc là tổng thể những tính chất, tình cảm, tính cách, đƣờng nét, màu sắc biểu hiện ở một dân tộc trong lịch sử tồn tại và phát triển giúp cho dân tộc đó giữ vững tính duy nhất, tính thống nhất, tính nhất quán của bản thân mình trong quá trình phát triển” [34,tr.19] Trong văn kiện Hội nghị lần thứ 5, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã xác định: “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, 11 những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam đƣợc vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nƣớc và giữ nƣớc”.56] Thuật ngữ bản sắc thường được sử dụng gắn với từ văn hóa và dân tộc. Nói đến dân tộc là nói đến văn hoá, bản sắc văn hoá và nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, bản sắc dân tộc. Có thể hiểu bản sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và được biểu hiện thông qua nhiều sắc thái văn hóa. Trong bản sắc văn hóa, các giá trị đặc trưng bản chất là cái trừu tượng, tiềm ẩn, bền vững; còn các sắc thái biểu hiện của nó có tính tương đối cụ thể, bộc lộ và biến đổi hơn.
Tuy nhiên, nếu dừng lại ở đây thì khái niệm bản sắc văn hóa vẫn là một khái niệm vô định, vì nói tới văn hóa là nói tới con người và nói tới những dân tộc cụ thể đã sinh ra, duy trì và phát triển nó. Vì vậy, chỉ khi tiếp cận đến bản sắc văn hóa của dân tộc thì ý nghĩa của nó mới được thể hiện một cách trọn vẹn. Còn về khái niệm Bản sắc văn hóa dân tộc và Bản sắc văn hóa dân tộc trong vănhọc thì cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhà nghiên cứu lý luận phê bình văn học bàn đến và đưa ra những ý kiến, những nhận định vừa mang tính khái quát vừa mang tính cụ thể. Ví dụ như: Nhà nghiên cứu Phùng Quý Nhâm khái quát:“Thuật ngữ bản sắc dân tộc của văn hóa xác định những đặc điểm độc đáo của nền văn học dân tộc nhƣ một giá trị tạo nên một diện mạo riêng của dân tộc đó” [17,tr.251]; nhà nghiên cứu Trần Đình Sử cũng đưa ra nhận định của mình:“Ta nên hiểu bản sắc nhƣ là một bản chất độc đáo, là diện mạo tinh thần riêng, là cái suigeneris (bản chất riêng) của sự vật, làm cho nó phân biệt với cái khác”; và ông cũng chỉ ra bản sắc dân tộc “Là thuộc tính độc đáo của một nền văn học vừa biểu hiện cái chung của nền văn học ấy, vừa phân biệt nó với nền văn học khác”.TS Trần Thị Việt Trung trong công trình nghiên cứu Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại nhấn mạnh: “Bản sắc 12 dân tộc là những nét riêng biệt độc đáo của một nền văn hóa, văn học, bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa, văn minh của dân tộc đƣợc vun đắp nên qua lịch sử, tạo thành phong cách dân tộc”.33] Nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hoá Nông Quốc Chấn đã có những phát hiện khá cụ thể về khái niệm này như: “Bản sắc văn hoá Việt Nam bao gồm nhiều nét đặc trƣng.
Có những nét chung trong văn hoá ngƣời Việt (còn gọi là ngƣời Kinh). Có những nét riêng trong văn hoá các DTTS. Những nét ấy biểu hiện trong cách lao động, cách sống, cách kiến trúc, nhà cửa, cách ứng xử giữa ngƣời với ngƣời… những nét riêng ấy không mâu thuẫn với nét chung; Nó đang có sự hài hoà” [6,tr.52] Như vậy có thể hiểu: Bản sắc dân tộc là những nét riêng biệt, độc đáo của một nền văn hóa, văn học, nó bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa, văn mạch của dân tộc được vun đắp nên qua lịch sử, tạo thành phong cách dân tộc. Các nhà nghiên cứu lý luận, phê bình văn học (Hoàng Trinh, Nguyễn Khoa Điềm, Trần Đình Sử, Phùng Quý Nhâm, Đinh Quang Tồn, Dương Duy Ngữ, Nguyễn Duy Bắc…) đều có những ý kiến thống nhất khi bàn về vấn đề bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học.
Theo các nhà nghiên cứu trên thì bản sắc dân tộc trong văn học được thể hiện ở: Đề tài, chủ đề vàcác phƣơng thức biểu hiện của tác phẩm. Ngoài ra, tác giả Phùng Quý Nhâm còn bổ sung thêm đó là: Tính cách, tâm hồn dân tộc.Tóm lại, có thể thấy rõ, bản sắc văn hóa dân tộc trong sáng tác văn học được thể hiện ở những phương diện cơ bản sau (chúng tôi xin phép được trình bầy lại những ý kiến của những người đi trước về vấn đề cụ thể này): Đề tài, chủ đề của tác phẩm văn học: Đề tài là chỉ các loại hiện tượng đời sống, được miêu tả, phản ánh trực tiếp trong sáng tác văn học. Còn chủ đề là vấn đề trung tâm được tác giả nêu lên, đặt ra nội dung cụ thể của tác phẩm 13 văn học. Như vây, đề tài, chủ đề tác phẩm văn học là những yếu tố quan trọng đối với nội dung của các tác phẩm văn học.
Đời sống sinh hoạt và con người là những yếu tố cơ bản của đề tài. Đây cũng chính là yếu tố quan trọng bậc nhất trong việc thể hiện bản sắc dân tộc trong tác phẩm văn học. Cho nên có thể nói có bao nhiêu hiện tượng đời sống dân tộc thì có bấy nhiêu đề tài phản ánh về cuộc sống, con người, thiên nhiên, văn hóa… của dân tộc. Thông qua những hiện tượng được phản ánh trong tác phẩm người ta có thể nhận biết được nét riêng của mỗi dân tộc.
Bên cạnh đề tài thì bản sắc dân tộc còn được thể hiện qua chủ đề của tác phẩm. Chủ đề và tư tưởng là hạt nhân cơ bản của nội dung tác phẩm. Nhà văn thông qua chủ đề tư tưởng để phản ánh lí tưởng thầm mĩ, tinh thần, ý chí, khát vọng. của dân tộc mình.
Đến với những tác phẩm như Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt), Hịch tƣớng sĩ (Trần Quốc Tuấn), Đại cáo bình Ngô (Nguyễn Trãi).ta sẽ nhận thấy được những yếu tố mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam. Đó chính là tinh thần yêu nước nồng nàn, là ý chí đấu tranh quật cường, khẳng định chủ quyền cho độc lập dân tộc của Việt Nam. Còn khi đến với những tác phẩm như: Truyện Kiều của Nguyễn Du, Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn - Đoàn Thị Điểm, Thơ của Hồ Xuân Hương. người đọc sẽ nhận thấy những giá trị nhân đạo sâu sắc toát lên từ chủ đề tác phẩm.
Đó là tiếng nói trân trọng giá trị con người, bênh vực và cảm thông cho những bất hạnh mà họ gặp phải. Có thể nói, thông qua tác phẩm văn chương, nhà văn đã phản ánh được truyền thống dân tộc, tâm hồn và cốt cách dân tộc. Tính cách dân tộc và tâm hồn dân tộc còn được biểu hiện qua hoàn cảnh lịch sử và tính cách điển hình của nhân vật. Khi nói đến bản sắc dân tộc là nói đến con người, đến cộng đồng dân tộc.
Nhân vật trong văn học có tính điển hình trong những hoàn cảnh lịch sử cụ thể là sự kết tinh cao độ của bản sắc dân tộc. - Bản sắc dân tộc còn đƣợc thể hiện ở hình thức nghệ thuật của tác phẩm. Đó chính là việc giữ gìn, sử dụng ngôn ngữ dân tộc để sáng tác. Ngôn 14 ngữ là một bộ phận của văn hóa, nó có giá trị biểu trưng cho dân tộc, nó kết tinh những quan niệm đã hình thành trong lịch sử phát triển của dân tộc.
Cho nên vấn đề ở đây không phải là tìm hiểu ngữ nghĩa của câu chữ mà thâm nhập vào cả một nền văn hóa. Khi đọc tác phẩm văn học Việt Nam cần phải có một vốn tri thức về thành ngữ, tục ngữ, những cách ví von dân gian…của ông cha ta vun đắp hình thành từ ngàn xưa.