Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu - Chương 2. Mô tả số liệu và phương pháp nghiên cứu - Chương 3. Một số kết quả đạt được - Kết luận 17 Luan van - Một số kiến nghị CHƢƠNG 1.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm cơ bản Theo Trung tâm Phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai (DMC) [1], một số khái niệm liên quan đến thiên tai được định nghĩa như sau: - Thiên tai là hiện tượng tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội. - Rủi ro thiên tai: là thiệt hại mà thiên tai về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội. - Cấp độ rủi ro thiên tai: là sự phân định mức độ thiệt hại do thiên tai gây ra về người, tài sản, môi trường, điều kiện sống và hoạt động kinh tế - xã hội. - Tình trạng dễ bị tổn thương: là những đặc điểm và hoàn cảnh của một cộng đồng, môi trường hoặc tài sản dễ bị ảnh hưởng của các tác động bất lợi từ thiên tai.
- Năng lực phòng chống thiên tai: là tổng hợp các nguồn lực, điểm mạnh, các điều kiện và đặc tính sẵn có trong cộng đồng, tổ chức và xã hội có thể được sử dụng để đạt được mục tiêu đề ra. Mưa lớn hay mưa vừa mưa to diện rộng là quá trình mưa xảy ra mang tính hệ thống trên một hay nhiều khu vực. Mưa lớn diện rộng có thể xảy ra một hay nhiều ngày, một hay nhiều trận mưa và không phân biệt được dạng mưa. Căn cứ vào lượng mưa thực tế đo được 24h tại các trạm quan trắc khí tượng bề mặt, trạm do mưa trong mạng lưới quan trắc khí tượng thủy văn (KTTV) mà phân định các cấp mưa khác nhau.
Theo quy chế báo áp thấp nhiệt đới, bão, lũ của Trung tâm KTTV Quốc Gia. Mưa lớn được chia làm 3 cấp: - Mƣa vừa: Lượng mưa đo được từ 15-50mm/24h. - Mƣa to: Lượng mưa đo được từ 51-100mm/24h. - Mƣa rất to: Lượng mưa đo được > 100mm/24h.
Nguồn gốc của mưa lớn ở nước ta đa phần đến từ bão và áp thấp nhiệt đới, dải hội tụ nhiệt đới, đường đứt, … Đặc biệt nguy hiểm khi có sự kết hợp giữa các hình thế trên với nhau hoặc kết hợp với địa hình và gây ra mưa lớn kéo dài trên diện rộng. 18 Luan van Hệ quả mà thiên tai mưa lớn gây ra thường là lũ lụt, lũ quét, ngập lụt và sạt lở đất, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống của nhân dân, cũng như kinh tế, xã hội tại địa phương chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng này. Từ ngày 15 tháng 8 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg Quy định chi tiết về cấp độ rủi ro thiên tai. Trong Quyết định này, cấp độ rủi ro thiên tai do mưa lớn có 3 cấp, với cấp thấp nhất là cấp 1 và cấp cao nhất là cấp 3 và được áp dụng cho tùy từng khu vực khác nhau và trường hợp cụ thể khác nhau, được thể hiện trong bảng 1 dưới đây.
Quy định các cấp độ rủi ro thiên tai do mưa lớn trong Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg Lượng mưa trong Thời gian kéo dài Cấp độ rủi ro thiên tai 24h Từ 1 đến 2 ngày 1 - 100 200 mm Từ 2 đến 4 ngày 2 2 Từ 1 đến 2 ngày 2 1 200 500 mm Từ 2 đến 4 ngày 3 3 500 mm Từ 1 đến 2 ngày 3 2 Khu vực ảnh hưởng Trung du và Đồng bằng miền núi Việc áp dụng trực tiếp các cấp độ rủi ro thiên tai được quy định trong Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg có thể tạo ra các cảnh báo thiên cao hoặc thiên thấp (theo các cấp độ rủi ro) khi chi tiết hoá cho địa phương. Tuy nhiên, rất khó có thể đưa ra cấp độ rủi ro trong trường hợp có nhiều thiên tai xảy ra cũng một lúc, mỗi thiên tai có thể có những tác động tiêu cực đến cộng đồng, hoạt động kinh tế - xã hội,… cho từng địa phương khác nhau và với các mức độ khác nhau. Như khi có ảnh hưởng trược tiếp bởi bão, thường kèm theo dông, tố, lốc, gió mạnh, mưa lớn,… Mỗi thiên tai trên đều đi kèm với nhau, diễn ra đồng thời, nhưng mỗi thiên tai này lại có các cấp độ rủi ro riêng. Do đó không thể đưa ra được cấp độ rủi ro cho từng địa phương 19 Luan van khi có nhiều thiên tai xảy ra cùng một lúc.
Hiện nay, các đơn vị dự báo thường lấy cấp độ rủi ro cao nhất có thể; nhưng cách làm này đôi khi không hợp lý và chưa tính đến các yếu tố kinh tế - xã hội. Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg được áp dụng cho từng khu vực. Do đó, khi có thiên tai xảy ra, Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực chỉ có thể nêu được cảnh báo thiên tai cho các vùng trong khu vực của mình, hay hầu hết tất cả các tỉnh trong khu vực sẽ có cùng một cấp độ rủi ro mà không thể chi tiết hoá cấp độ rủi ro thiên tai cho từng tỉnh trực thuộc trong Đài Khí tượng Thuỷ văn khu vực đó, hay chi tiết hơn nữa là cho đến từng huyện. Để giải quyết vấn đề này, đòi hỏi các bản tin dự báo thiên tai cũng phải đưa được thông tin chi tiết cho đến từng huyện.
Các bản tin dự báo bắt buộc phải chi tiết hoá và định lượng hoá. Mức độ chi tiết hoá của bản tin dự báo càng cao thì khả năng chi tiết hoá cấp độ rủi ro càng cao. Bên cạnh đó, việc thiếu cơ sở khoa học để hỗ trợ đưa ra quyết định về cấp độ rủi ro như thông tin tần suất xảy ra thiên tai (không gian và thời gian), bản chất của thiên tai (gồm: nguồn gốc, tính chất, xu hướng, mức độ nguy hiểm,…), mức độ rủi ro thiên tai (độ phơi nhiễm của các yếu tố bị ảnh hưởng, khả năng chống chịu, mức độ dễ bị tổn thương,…), khả năng phòng/chống thiên tai,…sẽ dẫn đến việc đưa ra quyết định cấp độ rủi ro thường mang tính chủ quan. Ví dụ như khi có một cơn bão ảnh hưởng trực tiếp đến khu vực đồng bằng Bắc Bộ, việc chi tiết hoá các cấp độ rủi ro do tác động của cơn bão và các hiện tượng khí tượng kèm theo như mưa lớn, tố, lốc, gió mạnh,… cho từng tỉnh, từng huyện là rất khó khăn nếu áp dụng theo Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg.
Mặt khác, nếu chỉ xét về khí tượng học, khi một cơn bão đổ bộ vào khu vực trọng điểm về kinh tế hoặc khu vực đông dân cư thì cấp độ rủi ro thiên tai sẽ phải cao hơn khi một cơn bão đổ bộ vào khu vực không có dân cư hoặc không có hoạt động kinh tế nào. Điều này chứng minh rằng cần thiết phải sử dụng thêm các thông tin về kinh tế - xã hội trong việc xác định cấp độ rủi ro thiên tai bên cạnh thông tin dự báo về thiên tai đang xét. Để triển khai tốt Quyết định số 44/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ, nhất là việc chi tiết hoá các cấp độ rủi ro thiên tai ở địa phương, cần các điều kiện sau: Chi tiết hoá và định lượng hoá các bản tin dự báo theo đúng quy định và Xây dựng được cơ sở dữ liệu về tần suất xảy ra thiên tai, bản chất thiên tai, mức độ rủi ro thiên tai, khả năng phòng/chống thiên tai,… Đây là hai điều kiện cần và đủ để chi tiết hoá cấp độ rủi ro thiên tai ở địa phương.2 Đặc điểm khu vực nghiên cứu 1.1 Điều kiện tự nhiên a) Vị trí địa lý Đồng bằng Bắc Bộ nằm ở phía nam miền Bắc, phía Bắc giáp với khu vực Đông Bắc, phía Tây Bắc giáp với Việt Bắc, phía Nam giáp với khu vực Tây Bắc và khu vực Bắc Trung Bộ; là khu vực rộng lớn, có địa hình thấp và khá bằng phẳng, có độ nghiêng theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nằm quanh khu vực hạ lưu sông Hồng và sông Thái Bình. Khu vực bao gồm các tỉnh: Hà Nội, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình và Thái Bình.
Toàn khu vực có tổng diện tích là 11.383,1 km2, với dân số là 14. Vùng đồng bằng và ven biển có địa hình tương đối bằng phẳng, nhưng địa hình lại có sự chia cắt khá phức tạp, điển hình là sự chênh lệch về độ cao giữa khu vực trung tâm vùng và khu vực ven biển. Vùng Châu thổ sông Hồng có diện tích không rộng, nhưng lại có nhiều sông ngòi và chảy theo nhiều hướng khác nhau, do đó đây là khu vực có hệ thống đê điều dày đặc và có từ lâu đời nên đã chia tài nguyên đata đai thành rất nhiều ô lớn, nhỏ, những con đê, đập trở thành ranh giới giữa các ô với sông.Hằng năm, các dải đất ven sông ngày càng được bồi đắp và nâng cao dần, lòng sông lắng đọng phù sa khiến mực nước sông dâng cao vào mỗi mùa mưa và tràn ngập vào vùng đất thấp trong đê, ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân. Khác với vùng đồng bằng, vùng ven biển lại được hình thành tương đối bằng phẳng với cốt đất thấp; do đó, mối đe doạ bởi lũ của các con sông cũng giảm đi, nhưng lại chịu ảnh hưởng của thuỷ triều tràn vào với mức độ không lớn và trên diện tích hẹp.
Nhìn chung, điều kiện địa hình khu vực đồng bằng Bắc Bộ cơ bản thận lợi cho việc khai thác và sử dụng triệt để quỹ đất đại, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí dân cư, phát triển sản xuất và chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bản của khu vực. Tuy nhiên, vẫn có một số vùng có địa hình hạn chế nhưng không lớn và mang tính cục bộ địa phương. 21 Luan van Hình 1. 1: Bản đồ khu vực đồng bằng Bắc Bộ 1.2 Đặc điểm khí hậu Về khí hậu, khu vực đồng bằng Bắc Bộ là tiêu biểu cho khí hậu miền bắc nước ta, với đặc điểm khí hậu có mùa đông lạnh (hơn nhiều so với các khu vực khác có cùng vĩ tuyến) với nửa đầu mùa đông tương đối lạnh khô, nửa cuối mùa đông nồm 22 Luan van ẩm; mùa hè thì ẩm ướt mưa nhiều, khí hậu có nhiều biến động mạnh.
Do có địa hình thấp và tương đối bằng phẳng của một vùng đồng bằng nhưng khí hậu đồng bằng Bắc Bộ vẫn biểu hiện mốt số nét riêng sp với các vùng miền khác. Do chênh lệch độ cao của địa hình với mực biển không nhiều, vì vậy, nền nhiệt khu vực đồng bằng Bắc Bộ tương đối đồng đều, cao hơn hẳn so với vùng núi.