Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành chăn nuôi giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam, đóng vai trò giải quyết việc làm, giảm nghèo và cung ứng nguồn thực phẩm. Trong bối cảnh nhu cầu tiêu dùng chuyển dịch sang các sản phẩm thịt chất lượng cao, các giống lợn bản địa và lợn rừng lai thả rông được quan tâm nhờ ưu điểm thịt nhiều nạc, thơm ngon, hợp khẩu vị và có giá trị thương phẩm cao. Bên cạnh đó, nhóm vật nuôi này có khả năng chịu kham khổ, thích ứng tốt với tập quán chăn nuôi tại các vùng miền núi và tận dụng hiệu quả nguồn thức ăn xanh, phụ phẩm nông nghiệp tại chỗ. Tuy nhiên, các giống lợn địa phương thuần thường có nhược điểm sinh trưởng chậm, tầm vóc nhỏ và tỷ lệ mỡ cao. Việc lai tạo giữa lợn đực rừng với nái lai F1 (Đực rừng x Meishan) nhằm tạo ra con lai thương phẩm có sức sản xuất và chất lượng thân thịt vượt trội là hướng đi đang được triển khai trong thực tiễn.

Trong quy trình nuôi dưỡng lợn rừng lai thương phẩm, khâu chế biến thức ăn quyết định trực tiếp đến tỷ lệ tiêu hóa và hiệu quả kinh tế. Phương thức cho ăn sống truyền thống có nhược điểm là hiệu quả tiêu hóa thấp, khiến lợn sinh trưởng chậm. Ngược lại, phương pháp nấu chín thức ăn tuy giúp cải thiện khả năng tiêu hóa và giảm tỷ lệ tiêu chảy ở giai đoạn lợn nhỏ, nhưng lại làm phát sinh chi phí chất đốt (than củi), tốn nhiều công lao động và làm tăng giá thành chăn nuôi. Nhằm tìm kiếm giải pháp kỹ thuật thay thế hiệu quả, đề tài "Ảnh hưởng của thức ăn ủ men đến sức sản xuất của lợn lai thương phẩm {Đực rừng x nái F1 (Đực rừng x Meishan)}" được thực hiện.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Đánh giá ảnh hưởng của việc sử dụng thức ăn ủ men vi sinh hoạt tính đến sức sản xuất (tỷ lệ nuôi sống, khả năng sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, mức tiêu tốn thức ăn và tình hình mắc bệnh) của đàn lợn lai thương phẩm {Đực rừng x Nái F1 (Đực rừng x Meishan)}.
  2. Đánh giá hiệu quả kinh tế (chi phí thức ăn và chế biến trên 1 kg tăng khối lượng) của mô hình sử dụng thức ăn ủ men so với thức ăn nấu chín truyền thống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Lợn lai thương phẩm {Đực rừng x Nái F1 (Đực rừng x Meishan)} trong giai đoạn từ 2 đến 8 tháng tuổi.
  • Phạm vi nội dung: Các chỉ tiêu sinh trưởng, tiêu tốn thức ăn, bệnh lý tiêu hóa - hô hấp và chi phí thức ăn/chế biến.
  • Địa điểm nghiên cứu: Trại chăn nuôi thuộc Chi nhánh Nghiên cứu và Phát triển Động thực vật Bản địa – Công ty Cổ phần Khai khoáng Miền núi, địa chỉ tại xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên.
  • Thời gian thực hiện: Từ ngày 18/05/2018 đến ngày 25/11/2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận dựa trên các cơ sở lý thuyết chuyên ngành Chăn nuôi - Thú y:

  • Cơ sở di truyền và ưu thế lai: Ứng dụng lý thuyết về ưu thế lai và tác động cộng gộp nguồn gen ở đời con lai F1, F2 giữa các giống có khoảng cách di truyền xa (Đặng Vũ Bình, 2000; Nguyễn Đức Hùng và cs, 2003; Haley và cs, 1995). Khai thác đặc tính mắn đẻ, tỷ lệ phôi sống cao của giống lợn Meishan (Trung Quốc) kết hợp cùng phẩm chất thịt nạc và tính thích nghi của lợn rừng bản địa (Võ Văn Sự, 2009; Nguyễn Ngọc Phụng và cs, 2006; Trịnh Hồng Sơn và cs, 2012).
  • Quy luật sinh trưởng của gia súc: Sử dụng hệ thống chỉ tiêu sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối ($A$) và sinh trưởng tương đối ($R$) theo Lê Huy Liễu và cs (2004). Phân tích các yếu tố nội tại (di truyền, hormon tăng trưởng STH - Lê Viết Ly, 1994; Hoàng Toàn Thắng, Cao Văn, 2006) và ngoại cảnh (dinh dưỡng, nhiệt độ, ẩm độ, ánh sáng - Trần Văn Phùng và cs, 2004; Nguyễn Văn Thiện và cs, 2002).
  • Cơ chế vi sinh đường tiêu hóa và thức ăn lên men: Vai trò của hệ vi sinh vật đường ruột (85% vi khuẩn có lợi, 15% vi khuẩn có hại) trong phân giải chất bột đường, tổng hợp hoạt chất sinh học và ức chế vi khuẩn gây thối (Đào Trọng Đạt và cs, 1995; Fuller, 1989). Quy trình ứng dụng chế phẩm men vi sinh hoạt tính để lên men làm chín thức ăn giàu tinh bột mà không qua gia nhiệt (Lê Mạnh Hùng, 2017).

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm:

  • Bố trí thí nghiệm: Phương pháp phân lô so sánh trên 20 lợn lai thương phẩm {Đực rừng x Nái F1 (Đực rừng x Meishan)} từ 2 đến 8 tháng tuổi, chia đều thành 02 lô (10 con/lô), nuôi theo phương thức bán chăn thả cùng điều kiện chuồng trại và quy trình thú y:
    • Lô TN1 (Lô thí nghiệm): Sử dụng thức ăn phối trộn ủ men vi sinh hoạt tính (thời gian ủ 24 giờ).
    • Lô TN2 (Lô đối chứng): Sử dụng thức ăn phối trộn được nấu chín bằng than.
  • Khẩu phần dinh dưỡng: Thành phần 1 kg thức ăn tinh phối trộn gồm 0,7 kg ngô hạt nghiền (ME: 2342 Kcal, Protein thô: 5,8%, Ca: 0,147%, P: 0,14%); 0,2 kg cám mạch (ME: 519,2 Kcal, Protein thô: 2,36%, Ca: 0,016%, P: 0,122%); 0,1 kg thức ăn đậm đặc (ME: 280 Kcal, Protein thô: 4,5%, Ca: 0,15%, P: 0,12%). Thức ăn thô xanh gồm thân cây chuối, lá sung băm nhỏ cho ăn sống.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Cân khối lượng lợn định kỳ vào buổi sáng trước khi ăn tại các mốc 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 tháng tuổi trên cùng một loại cân.
    • Tính sinh trưởng tuyệt đối theo công thức: $A = \frac{P_2 - P_1}{t_2 - t_1}$ (g/con/ngày).
    • Tính sinh trưởng tương đối theo công thức: $R = \frac{P_2 - P_1}{(P_1 + P_2)/2} \times 100$ (%).
    • Theo dõi lượng thức ăn tinh và thức ăn xanh tiêu thụ hàng ngày bằng phương pháp cân khối lượng cấp phát và thức ăn thừa.
    • Ghi chép ca bệnh tiêu hóa, hô hấp hàng ngày; hạch toán chi phí thức ăn, men vi sinh, than đốt trên tổng khối lượng lợn tăng.
  • Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu được xử lý thống kê sinh học theo Nguyễn Văn Thiện và cs (2002), tính toán các giá trị trung bình cộng ($\bar{X}$), độ lệch tiêu chuẩn ($Sd$), sai số trung bình ($SE$), hệ số biến dị ($Cv%$) và so sánh sai khác thống kê ở mức ý nghĩa $P \ge 0,05$ hoặc $P < 0,05$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ nhu cầu thị trường đối với thịt lợn rừng lai và thực trạng bất cập trong chế biến thức ăn tại cơ sở sản xuất (nấu chín tốn kém nhiên liệu và công lao động). Xác định rõ mục đích nghiên cứu nhằm đánh giá khả năng sinh trưởng, khả năng kháng bệnh và hiệu quả kinh tế của thức ăn ủ men so với thức ăn nấu chín trên lợn lai thương phẩm {Đực rừng x Nái F1 (Đực rừng x Meishan)}. Nêu rõ ý nghĩa khoa học trong việc bổ sung dẫn liệu về dinh dưỡng vi sinh vật và ý nghĩa thực tiễn giúp người chăn nuôi hạ giá thành sản xuất.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Chương này tổng hợp các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến:

  • Cơ sở di truyền học về ưu thế lai đời F1, F2 và đặc điểm sinh trưởng của lợn con, lợn choai.
  • Vai trò sinh lý của hệ vi sinh vật dạ dày - ruột (vi khuẩn lactic, probiotic) và cơ chế lên men sinh học làm chín tinh bột nguội bằng chế phẩm men vi sinh hoạt tính với tỷ lệ 0,5 kg men/100 kg bột ngô, cám.
  • Khái quát tình hình nghiên cứu lợn rừng lai tại Việt Nam (Võ Văn Sự, 2009) và giá trị nguồn gen lợn Meishan nhập nội có năng suất sinh sản cao (Haley và cs, 1995; Nguyễn Ngọc Phụng và cs, 2006; Trịnh Hồng Sơn và cs, 2012).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Mô tả chi tiết quy trình thực nghiệm trên 20 lợn lai thương phẩm tại Trại chăn nuôi thuộc xã Tức Tranh, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên từ tháng 5 đến tháng 11/2018. Trình bày sơ đồ phân 2 lô so sánh (TN1 ăn thức ăn ủ men, TN2 ăn thức ăn nấu chín), công thức khẩu phần tinh phối trộn (ngô 70%, cám mạch 20%, đậm đặc 10%), chế độ cho ăn theo độ tuổi (4 bữa/ngày lúc 2-4 tháng, 3 bữa/ngày lúc 5-6 tháng, 2 bữa/ngày lúc 6-8 tháng), quy trình vệ sinh chuồng trại, tiêu độc khử trùng và phác đồ tiêm vắc xin định kỳ. Nêu đầy đủ các công thức toán học và phương pháp sinh trắc thống kê dùng để phân tích số liệu.

Phần 4: Kết quả và thảo luận

Nội dung chương được chia thành hai phần chính:

  1. Kết quả công tác phục vụ sản xuất:
    • Chăm sóc, quản lý 30 lợn nái chửa, nái đẻ, nuôi con và 15 đàn lợn con cai sữa (180 con) theo quy trình kỹ thuật.
    • Triển khai tiêm phòng vắc xin định kỳ: Dịch tả (269 liều), Donoban 10 (237 liều), PRRS (32 liều), Lepto (237 liều), Lở mồm long móng (32 liều), Farrowsure (32 liều).
    • Tham gia điều trị 3 nhóm bệnh: Hội chứng tiêu hóa (87 con điều trị, khỏi 77 con, tỷ lệ khỏi 88,51%); Bệnh đường hô hấp (25 con điều trị, khỏi 23 con, tỷ lệ khỏi 92,00%); Bệnh ký sinh trùng (7 con điều trị, khỏi 7 con, đạt 100%).
  2. Kết quả chuyên đề nghiên cứu khoa học:
    • Tỷ lệ nuôi sống: Cả hai lô TN1 và TN2 đều đạt 90,00% khi kết thúc 8 tháng tuổi (mỗi lô sống 9/10 con). Lô TN1 chết 1 con ở giai đoạn 2-3 tháng tuổi; lô TN2 chết 1 con ở giai đoạn 6-7 tháng tuổi do rối loạn tiêu hóa và hô hấp.
    • Sinh trưởng tích lũy: Khối lượng bắt đầu thí nghiệm (2 tháng tuổi) của TN1 đạt 5,15 kg, TN2 đạt 5,22 kg. Kết thúc 8 tháng tuổi, TN1 đạt 34,14 kg/con so với TN2 đạt 35,36 kg/con (TN1 bằng 96,57% TN2, thấp hơn 3,43%). Sự sai khác về khối lượng cuối kỳ giữa hai lô không có ý nghĩa thống kê ($P \ge 0,05$).
    • Sinh trưởng tương đối: Diễn biến giảm dần theo tuổi ở cả hai lô theo đúng quy luật sinh học. Lô TN1 giảm từ 48,10% (2-3 tháng) xuống 19,46% (7-8 tháng); lô TN2 giảm từ 53,68% (2-3 tháng) xuống 18,73% (7-8 tháng).
    • Sinh trưởng tuyệt đối: Bình quân giai đoạn 2-8 tháng tuổi của lô TN1 đạt 161,08 g/con/ngày (bằng 96,21% so với TN2), lô TN2 đạt 167,42 g/con/ngày. Ở giai đoạn 7-8 tháng tuổi, tốc độ tăng trọng của hai lô đạt mức tương đương nhau là 201,85 g/con/ngày.
    • Tình hình mắc bệnh: Lô TN1 có tỷ lệ mắc tiêu chảy là 30,0% (3 con) và hô hấp là 20,0% (2 con); lô TN2 có tỷ lệ mắc tiêu chảy là 20,0% (2 con) và hô hấp là 20,0% (2 con).
    • Tiêu tốn thức ăn: Cả hai lô tiêu thụ cùng mức 900 kg thức ăn tinh và 2290 kg thức ăn xanh. Tiêu tốn thức ăn tinh/kg tăng khối lượng ở lô TN1 là 3,45 kg (cao hơn 3,94% so với lô TN2 là 3,32 kg). Tiêu tốn thức ăn xanh/kg tăng trọng ở TN1 là 8,78 kg so với TN2 là 8,44 kg.
    • Chi phí thức ăn: Chi phí men vi sinh ở lô TN1 là 108.000 đồng, chi phí than đốt ở lô TN2 là 1.250.000 đồng. Tổng chi phí thức ăn và chế biến của TN1 là 10.053.000 đồng, thấp hơn TN2 (11.195.000 đồng). Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng của lô TN1 là 38.505 đồng, thấp hơn 6,75% so với lô TN2 là 41.295 đồng.

Phần 5: Kết luận và đề nghị

Rút ra 5 kết luận cốt lõi về tỷ lệ nuôi sống, khối lượng tích lũy, mức tiêu tốn thức ăn, hiệu quả chi phí thức ăn và kết quả rèn luyện tay nghề thực tế. Đề nghị tiếp tục nghiên cứu mở rộng quy mô mẫu và tăng số lần lặp lại thí nghiệm để củng cố độ tin cậy.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu thực nghiệm đầy đủ so sánh giữa hai phương thức chế biến thức ăn ủ men và nấu chín:

Chỉ tiêu theo dõi Đơn vị Lô TN1 (Thức ăn ủ men) Lô TN2 (Thức ăn nấu chín) So sánh TN1/TN2 (%)
Số lượng lợn theo dõi ban đầu Con 10 10 -
Khối lượng lúc 2 tháng tuổi kg/con $5,15 \pm 0,57$ $5,22 \pm 0,46$ 98,66
Khối lượng lúc 8 tháng tuổi kg/con $34,14 \pm 2,77$ $35,36 \pm 1,84$ 96,57 ($P \ge 0,05$)
Tăng khối lượng tích lũy kg 261,00 271,22 96,23
Tỷ lệ nuôi sống đến 8 tháng tuổi % 90,00 90,00 100,00
Sinh trưởng tuyệt đối bình quân (2-8 TT) g/con/ngày 161,08 167,42 96,21
Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy % 30,00 20,00 150,00
Tỷ lệ mắc bệnh đường hô hấp % 20,00 20,00 100,00
Tiêu tốn thức ăn tinh/kg tăng khối lượng kg 3,45 3,32 103,94
Tiêu tốn thức ăn xanh/kg tăng khối lượng kg 8,78 8,44 103,94
Tổng chi phí thức ăn và chế biến Đồng 10.053.000 11.195.000 89,79
Chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng Đồng 38.505 41.295 93,25

Đóng góp và đề xuất của tác giả:

  • Về mặt kỹ thuật: Chứng minh được thức ăn ủ men vi sinh hoạt tính hoàn toàn có thể thay thế thức ăn nấu chín trong chăn nuôi lợn rừng lai thương phẩm giai đoạn 2-8 tháng tuổi mà không làm suy giảm tỷ lệ nuôi sống và không có sự sai khác mang ý nghĩa thống kê về khối lượng xuất chuồng lúc 8 tháng tuổi ($P \ge 0,05$).
  • Về mặt kinh tế: Giúp người chăn nuôi giảm được 6,75% chi phí thức ăn và chế biến trên mỗi kilôgam tăng khối lượng (tiết kiệm 2.790 đồng/kg tăng trọng) nhờ cắt giảm toàn bộ chi phí chất đốt và giảm công lao động đun nấu.
  • Đề xuất ứng dụng: Khuyến cáo áp dụng phương pháp ủ men vi sinh cho các trang trại và nông hộ chăn nuôi lợn rừng lai nhằm chủ động nguồn thức ăn, hạ giá thành sản xuất và giảm ô nhiễm môi trường khí thải.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Dung lượng mẫu nghiên cứu còn hạn chế (10 con/lô thí nghiệm, tổng số 20 con), số lần lặp lại thí nghiệm chưa nhiều do thời gian và điều kiện thực tập tại cơ sở có giới hạn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục triển khai các nghiên cứu tiếp theo với dung lượng mẫu lớn hơn, bố trí nhiều lần lặp lại qua các mùa vụ khác nhau trong năm để đánh giá toàn diện hơn về sinh lý tiêu hóa và chất lượng thân thịt của tổ hợp lợn lai thương phẩm này.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Giảng viên, sinh viên và học viên chuyên ngành Chăn nuôi, Thú y, Nông nghiệp: Cung cấp tài liệu tham khảo về phương pháp bố trí thí nghiệm phân lô so sánh trên gia súc, phương pháp tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng ($A, R$), tiêu tốn thức ăn và phân tích số liệu thống kê sinh học.
  • Kỹ thuật viên trại giống, chủ trang trại và nông hộ chăn nuôi lợn bản địa, lợn rừng lai: Có thể tham khảo trực tiếp công thức phối trộn khẩu phần (ngô 70%, cám mạch 20%, đậm đặc 10%), quy trình kỹ thuật ủ men vi sinh hoạt tính ẩm/ướt và phác đồ thú y phòng ngừa, điều trị tiêu chảy, hô hấp, ký sinh trùng cho lợn thương phẩm.

Câu hỏi thường gặp

1. Đối tượng vật nuôi trong nghiên cứu có công thức lai như thế nào?
Đối tượng nghiên cứu là lợn lai thương phẩm đời con của đực rừng phối với nái lai F1 (Đực rừng x Meishan), mang công thức lai: Đực rừng x Nái F1 (Đực rừng x Meishan).

2. Công thức khẩu phần thức ăn tinh phối trộn trong thí nghiệm gồm những thành phần nào?
Khẩu phần tinh phối trộn (trong 1 kg) gồm: 0,7 kg ngô hạt nghiền (ME: 2342 Kcal, Protein: 5,8%, Ca: 0,147%, P: 0,14%); 0,2 kg cám mạch (ME: 519,2 Kcal, Protein: 2,36%, Ca: 0,016%, P: 0,122%); 0,1 kg thức ăn đậm đặc (ME: 280 Kcal, Protein: 4,5%, Ca: 0,15%, P: 0,12%).

3. Khối lượng và tốc độ tăng khối lượng của lợn nuôi thức ăn ủ men khác biệt ra sao so với thức ăn nấu chín?
Lúc 8 tháng tuổi, lợn nuôi thức ăn ủ men (TN1) đạt khối lượng trung bình $34,14 \pm 2,77$ kg/con, thấp hơn 3,43% so với lô ăn thức ăn nấu chín ($35,36 \pm 1,84$ kg/con), tuy nhiên sai khác này không có ý nghĩa thống kê ($P \ge 0,05$). Sinh trưởng tuyệt đối bình quân giai đoạn 2-8 tháng tuổi của lô ủ men đạt 161,08 g/con/ngày, so với lô nấu chín là 167,42 g/con/ngày.

4. Mức tiêu tốn thức ăn và tỷ lệ mắc bệnh tiêu hóa giữa hai lô thí nghiệm diễn biến thế nào?
Lô ăn thức ăn ủ men có tiêu tốn thức ăn tinh là 3,45 kg/kg tăng khối lượng (cao hơn 3,94% so với lô nấu chín là 3,32 kg). Tỷ lệ mắc hội chứng tiêu chảy ở lô ủ men là 30,0% (3/10 con), cao hơn so với lô nấu chín là 20,0% (2/10 con); tỷ lệ mắc bệnh hô hấp ở cả hai lô bằng nhau (20,0%).

5. Tại sao thức ăn ủ men có tiêu tốn thức ăn cao hơn nhưng chi phí sản xuất lại thấp hơn thức ăn nấu chín?
Mặc dù lợn ăn thức ăn ủ men có mức tiêu tốn thức ăn tinh cao hơn 3,94%, nhưng chi phí mua men vi sinh (108.000 đồng/lô) thấp hơn nhiều so với chi phí mua than đốt để nấu chín thức ăn (1.250.000 đồng/lô). Do đó, chi phí thức ăn và chế biến cho 1 kg tăng khối lượng của lô ủ men chỉ là 38.505 đồng, tiết kiệm được 6,75% so với lô nấu chín (41.295 đồng).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thào A Só đã đánh giá thực nghiệm ảnh hưởng của thức ăn ủ men vi sinh hoạt tính so với thức ăn nấu chín trên lợn lai thương phẩm {Đực rừng x Nái F1 (Đực rừng x Meishan)} từ 2 đến 8 tháng tuổi tại Thái Nguyên. Kết quả khẳng định nuôi bằng thức ăn ủ men cho tỷ lệ sống tương đương (90%), khối lượng kết thúc 8 tháng tuổi đạt 34,14 kg/con (không sai khác thống kê so với lô nấu chín 35,36 kg/con) và giúp giảm 6,75% chi phí thức ăn/kg tăng khối lượng. Nghiên cứu mang lại luận cứ thực nghiệm giá trị, chứng minh tính khả thi của việc ứng dụng công nghệ ủ men sinh học nhằm thay thế phương pháp nấu chín trong chăn nuôi lợn rừng lai thương phẩm.