Đặt vấn đề Ngành chăn nuôi nước ta đã và đang chiếm một vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp nói riêng và trong cơ cấu nền kinh tế của cả nước nói chung. Chăn nuôi, với nhiều phương thức phong phú và đa dạng đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, xóa đói giảm nghèo, nâng cao thu nhập cho người dân, tạo ra các nguồn thực phẩm cho người tiêu dùng. Hiện nay, cùng với xu thế phát triển của nền kinh tế người nông dân đang mong muốn tìm lại những giống vật nuôi địa phương, những giống vật nuôi hoang dã để cải tạo các sản phẩm thịt chất lượng cao. Trong đó, các giống lợn địa phương, lợn rừng cũng được quan tâm nhiều do phương thức chăn thả tự do, nhiều nạc, ngon thịt, phù hợp với khẩu vị của người Việt Nam, đang rất được ưa chuộng và trở thành “đặc sản” có giá trị trên thị trường.
Ngoài ra, đây là những giống lợn chịu đựng kham khổ và thích ứng rất tốt với tập quán chăn nuôi ở khu vực miền núi. Đồng thời cũng đem lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi có điều kiện về đất đai và khả năng tự sản xuất thức ăn xanh. Mặc dù vậy, những giống lợn này có nhược điểm sinh trưởng chậm, một số có ngoại hình xấu, hơi nhiều mỡ vì vậy việc nghiên cứu và cho lai với lợn rừng để tạo ra con lai có năng suất và chất lượng thịt cao hơn đảm bảo đáp ứng nhu cầu của xã hội (Võ Văn Sự, 2009) [11]. Trong chăn nuôi lợn rừng lai thương phẩm, việc chế biến thức ăn có tầm quan trọng đặc biệt.
Người chăn nuôi thường cho lợn ăn sống các loại thức ăn, tuy nhiên, với phương thức này, hiệu quả tiêu hóa thấp, dẫn đến năng suất chăn nuôi không cao, hiệu quả chăn nuôi giảm. Tại cơ sở chăn nuôi của Chi nhánh nghiên cứu và phát triển động vật bản địa - Công ty cổ phần khai khoáng miền núi, thường sử dụng phương pháp chế biến là nấu chín thức ăn. h 2 Phương pháp này có ưu điểm là tăng khả năng tiêu hóa, giảm tỷ lệ tiêu chảy với lợn ở giai đoạn nhỏ, nhưng chi phí chế biến cao, tốn nhiều công lao động. Vì vậy, việc nghiên cứu phương pháp chế biến phù hợp với lợn rừng thương phẩm là rất cần thiết.
Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Ảnh hưởng của thức ăn ủ men đến sức sản xuất của lợn lai thương phẩm {Đực rừng x nái F1 ( Đực rừng x Nái Meishan)}.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài Đánh giá được khả năng sử dụng thức ăn ủ men đến sức sản xuất của đàn lợn lai thương phẩm và hiệu quả kinh tế của chăn nuôi lợn lai thương phẩm tại Trại chăn nuôi của chi nhánh NC&PT động thực vật bản địa – Công ty Cổ phần khai khoáng miền núi tỉnh Thái Nguyên. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong khoa học Các kết quả nghiên cứu đạt được là những tư liệu khoa học về khả năng sử dụng thức ăn ủ men đến sức sản xuất của lợn lai thương phẩm {Đực rừng x Nái F1 (Đực rừng x Meishan)}, phục vụ cho nghiên cứu, học tập của giảng viên và sinh viên trong lĩnh vực chăn nuôi lợn. Ý nghĩa trong thực tiễn Kết quả của đề tài là cơ sở thực tiễn quan trọng giúp các trang trại và người chăn nuôi có biện pháp nuôi dưỡng, chăm sóc phù hợp với điều kiện thực tế nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả kinh tế trong chăn nuôi lợn lai thương phẩm {Đực rừng x Nái F1(Đực rừng x Meishan)}.
Giúp sinh viên làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và kinh nghiệm trong việc chăn nuôi lợn, Từ đó giúp nâng cao trình độ, kỹ năng thực hành, củng cố kiến thức bản thân. h 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học 2. Ưu thế lai và sinh trưởng của lợn rừng lai 2.1 Ưu thế lai Lai giống là phương pháp nhân giống bằng cách cho con đực giống và cái giống thuộc hai quần thể khác nhau phối giống nhau.
Hai quần thể này có thể là hai dòng, hai giống khác nhau, do vậy đời con không còn là dòng, giống thuần mà là con lai giữa hai dòng, giống khởi đầu là bố mẹ của chúng.Ví dụ: Cho lợn đực Landrace phối giống với lợn cái Móng Cái, đời con là Landrace x Móng Cái (Đặng Vũ Bình, 2000) [1]. Lai giống có hai tác dụng chủ yếu. Một là tạo được ưu thế lai ở đời con về một số tính trạng nhất định. Các tác động cộng gộp là nguyên nhân của hiện tưởng sinh học này.
Hai là làm phong phú thêm bản chất di truyền của giống khởi đầu, người ta gọi đó là tác dụng phối hợp. Điều này có ý nghĩa là lai giống sử dụng được tác động cộng gộp các nguồn gen ở thế hệ bố mẹ. Theo Nguyễn Đức Hùng và cs, (2003) [3], ưu thế lai là hiện tượng liên quan tới sự phát triển mạnh mẽ ở đời sau như: Sức đề kháng tốt hơn, sức sản xuất cao hơn bố mẹ. Ưu thế lai hiểu theo nghĩa toàn bộ là sự phát triển mạnh mẽ của toàn bộ khối lượng cơ thể, sự tăng cường trao đổi chất, tăng trọng nhanh hơn, chống đỡ bệnh tật tốt hơn… ưu thế lai hiểu theo từng mặt, từng tính trạng: Có tính trạng phát triển, có tính trạng giữ nguyên, thậm chí có tính trạng giảm sút so với giống gốc.
Trong nhiều trường hợp, ưu thế lai là biểu hiện cao hơn trung bình của hai giống gốc, để tao ưu thế lai, người ta phải cho vật nuôi giao phối không cận huyết, nhằm tăng cường tốc độ dị hợp bằng cách lai giữa hai dòng, giữa các giống, lai xa. Tuy nhiên mức độ biểu hiện ưu thế lai còn phụ thuộc vào h 4 nguồn gốc di truyền của bố mẹ, tính trạng cần xem xét công thức lai và điều kiện nuôi dưỡng. Nếu nhưng giao phối cận huyết làm tăng mức độ đồng hợp, giảm mức độ dị hợp của các gen thì ngược lại, lai giống làm tăng mức độ dị hợp, giảm mức độ đồng hợp của các kiểu gen. Các tính trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao nhất, các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là phương pháp nhanh hơn, hiệu quả hơn.
Hai quần thể vật nuôi càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa chúng càng lớn bấy nhiêu. Ưu thế lai cao nhất ở F1, ưu thế lai ở thế hệ F2 (giao phối giữa F1x F1 hoặc F1 với dòng bố, mẹ khởi đầu chỉ bằng ½ ưu thế lai của F1).2 Đặc điểm sinh trưởng của lợn thương phẩm: Lợn con từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa (tách mẹ) có nhiều đặc điểm sinh lý đặc trưng và đòi hỏi phải có sự chăm sóc nuôi dưỡng tốt. Nếu khi chăn nuôi, người chăn nuôi không nắm vững các đặc điểm sinh lý của lợn con sẽ không nuôi dưỡng và chăm sóc hợp lý chúng, dẫn đến sinh trưởng chậm, lợn không khỏe và chất lượng con giống kém. Trong giai đoạn này lợn con có những đặc điểm sinh lý đặc trưng mà chúng ta cần quan tâm để có chế độ dinh dưỡng và chăm sóc thích hợp cho chúng.
Lợn con có tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh: Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể trọng tăng dần theo tuổi. Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, trọng lượng của lợn con tăng từ 10 đến 12 lần. So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng nhanh hơn gấp nhiều lần. Các cơ quan trong cơ thể lợn con cũng thay đổi và tăng lên nhanh chóng, Hàm lượng nước giảm dần theo tuổi, vật chất khô tăng dần, các thành phần h 5 hóa học trong cơ thể của lợn thay đổi nhanh chóng.
Hàm hàm lượng sắt trong cơ thể lợn con mới sinh ra là 187% nhưng đến ngày thứ 20 giảm xuống còn 40,58 % sau đó tăng dần lên 60 ngày bằng lúc mới đẻ ra. Giai đoạn sau cai sữa lợn con cần nhiều protein, khoáng, vitamin cho phát triển cơ, xương. Tuy nhiên, lợn con sau khi cai sữa khả năng tiêu hoá còn yếu, lượng ăn mỗi lần còn ít, vì vậy cần cho ăn nhiều bữa/ngày, mỗi ngày cho ăn 4 - 5 bữa trong giai đoạn đầu. Khoảng cách giữa các bữa ăn phải chia đều, nên cho ăn thức ăn tinh trước, thô xanh sau.
Không cho ăn các loại thức ăn kém phẩm chất, thối mốc, hư hỏng vì dễ gây cho lợn bị ỉa chảy. Đặc điểm của giai đoạn lợn choai này là lợn có khả năng tiêu hoá và hấp thu dinh dưỡng của các loại thức ăn cao. Hệ mô cơ cũng phát triển nhanh, hình dạng nổi lên rõ nét, nhất là các cơ mông, cơ vai, cơ lườn lưng. Đến gần cuối giai đoạn này thì lợn tích luỹ mỡ rõ.
Do vậy cần cho lợn vận động, tắm chải cho lợn. Giai đoạn này lợn phàm ăn, khả năng lợi dụng thức ăn cao, nhất là thức ăn thô xanh. Từ đặc tính đó cần cung cấp thức ăn đầy đủ dinh dưỡng, đồng thời tận dụng các loại rau, bèo phế phụ phẩm trong nông nghiệp để đảm bảo dinh dưỡng, tiết kiệm chi phí thức ăn. Sinh trưởng và các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của lợn Để nghiên cứu khả năng sinh trưởng và phát dục của vật nuôi, người ta dùng phương pháp định kỳ cân khối lượng và đo kích thước của cơ thể vật nuôi.
Từ đó tính toán ra các chỉ tiêu sinh trưởng để đánh giá khả năng sinh trưởng và phát dục của vật nuôi. Theo Lê Huy Liễu và cs, (2004) [5]. Các chỉ tiêu sinh trưởng thường dùng khi nghiên cứu khả năng sinh trưởng của vật nuôi là: h 6 + Sinh trưởng tích luỹ: Là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tích luỹ được qua thời gian khảo sát. Các thông số thu được qua các lần cân đo là biểu thị sinh trưởng tích luỹ của vật nuôi.
+ Sinh trưởng tuyệt đối (A): Là khối lượng, kích thước, thể tích của vật nuôi tăng lên trong một đơn vị thời gian. Đối với lợn, đơn vị sinh trưởng tuyệt đối thường là gam/con/ngày. + Sinh trưởng tương đối (R): Là tỷ lệ % của phần khối lượng (thể tích, kích thước) tăng lên so với khối lượng (thể tích, kích thước) thời điểm cân đo. Đơn vị sinh trưởng tương đối thường là %.
Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát dục của lợn gồm có yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong.