Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NANO CARBON VÀ BÊ TÔNG NHỰA Giới thiệu chung về công nghệ Nano, lịch sử ra đời công nghệ Nano và vật liệu CTNs. Giới thiệu về BTN, yêu cầu kỹ thuật, tính khả thi khi sử dụng vật liệu CTNs làm phụ gia cho BTN. Chương 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Nghiên cứu lý thuyết về vật liệu CNTs, các phương pháp điều chế vật liệu CNTs, các tính chất và ứng dụng của vật liệu CNTs trong các ngành công nghiệp. Cơ sở khoa học để trộn phụ gia CNTs vào bê tông nhựa.
Chương 3: NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ Nghiên cứu thực nghiệm trong phòng, kiểm tra các cốt liệu đầu vào, tiến hành đúc mẫu Marshall với các tỷ lệ phần trăm phụ gia Nano Carbon khác nhau theo khối lượng nhựa, thí nghiệm và phân tích, đánh giá các kết quả đã đạt được. TỔNG QUAN VỀ NANO CARBON VÀ BÊ TÔNG NHỰA 1. Tổng quan về công nghệ Nano Khái niệm về “công nghệ Nano” phụ thuộc vào lĩnh vực mà nó được nói đến. Về cơ bản, nó được định nghĩa là sự kiểm soát và tái cấu trúc của vật chất theo thứ tự nanomet để tạo ra vật liệu có tính cơ bản và thuộc tính mới.
Công nghệ Nano cho phép vật liệu Nano “giao dịch” với kích thước hạt ở qui mô nanomet. Khoa học Nano và công nghệ Nano nghiên cứu và ứng dụng những thứ cực kỳ nhỏ bé và có thể được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực khoa học như hóa học, sinh học, vật lý, khoa học vật liệu và kỹ thuật. Lịch sử ra đời của công nghệ Nano và vật liệu Carbon Nanotubes 1. Lịch sử ra đời của công nghệ Nano Các ý tưởng và khái niệm về khoa học Nano và công nghệ Nano bắt đầu bằng một bài nói chuyện của nhà vật lý Richard Feynman trong một cuộc họp của Hiệp hội Vật lý Hoa Kỳ tại Học viện Công nghệ California (CalTech) vào ngày 29 tháng 12 năm 1959, rất lâu trước khi thuật ngữ Nanotechnology được sử dụng.
Trong bài phát biểu của mình, Feynman mô tả một quy trình trong đó các nhà khoa học có thể thao tác và kiểm soát các nguyên tử và phân tử riêng lẻ. Hơn một thập kỷ sau, khi khám phá ra công nghệ gia công siêu chính xác, giáo sư Norio Taniguchi đặt ra thuật ngữ công nghệ Nano (Nanotechnology). Đến năm 1981, với sự phát triển của kính hiển vi quét xuyên hầm (Scanning Tunneling Microscope) có thể nhìn thấy các nguyên tử riêng biệt, công nghệ Nano hiện đại bắt đầu phát triển [4]. Thật khó tưởng tượng công nghệ Nano nhỏ như thế nào.
Một nanomet là một phần tỷ của một mét, hoặc 10-9 của một mét. Dưới đây là một vài ví dụ minh hoạ: - Có 25.000 nanomet trên một inch. - Một tờ báo có độ dày khoảng 100. - Nếu một viên bi là một nanomet, thì một mét sẽ là kích thước của Trái Đất.
Khoa học Nano và công nghệ Nano liên quan đến khả năng nhìn thấy và kiểm soát các nguyên tử và phân tử riêng lẻ. Mọi thứ trên Trái Đất đều gồm các nguyên tử, như thức ăn chúng ta ăn, quần áo chúng ta mặc, tòa nhà và nhà chúng ta đang sống và 4 thậm chí cả cơ thể chúng ta v.v… Mặc dù khoa học Nano và công nghệ Nano hiện đại vẫn còn khá mới, các vật liệu Nano đã được sử dụng từ nhiều thế kỷ trước. Các hạt vàng và bạc kích thước siêu nhỏ đã tạo ra màu sắc trong các cửa sổ tranh kính màu của các nhà thờ thời trung cổ cách đây hàng trăm năm. Chỉ có điều các nghệ sĩ khi đó không biết rằng quá trình họ sử dụng để tạo ra những tác phẩm nghệ thuật tuyệt vời này thực sự dẫn đến sự thay đổi trong thành phần cấu trúc của các vật liệu.
Các nhà khoa học và kỹ sư ngày nay đang tìm kiếm nhiều cách khác nhau để tạo ra các vật liệu ở kích thước nanomet nhằm tận dụng các đặc tính đã được cải tiến của chúng như độ cứng cao hơn, trọng lượng nhẹ, tăng kiểm soát quang phổ ánh sáng và phản ứng hoá học lớn hơn so với các chất tương ứng. Mặc dù nanomet đã rất nhỏ, nhưng nó vẫn lớn rất nhiều so với nguyên tử. Một nguyên tử có đường kính khoảng 0,1 nm. Hạt nhân nguyên tử nhỏ hơn nhiều - khoảng 0,00001 nm.
Các nguyên tử là những khối vật liệu xây dựng cho tất cả mọi dạng vật chất trong vũ trụ của chúng ta. Ví dụ, cơ thể chúng ta được tập hợp từ hàng triệu tế bào sống. Các tế bào là máy Nano của thiên nhiên. Ở quy mô nguyên tử, các yếu tố ở mức cơ bản nhất.
Ở quy mô Nano, chúng ta có thể đặt các nguyên tử này lại với nhau để tạo ra hầu hết mọi thứ. Lịch sử ra đời của vật liệu Carbon Nanotubes Cho đến trước năm 1985 người ta vẫn cho rằng Carbon chỉ tồn tại ở ba dạng thù hình: - Dạng thù hình thứ nhất của Carbon cũng là dạng phổ biến nhất thường gọi là than, có màu đen như là cây, gỗ cháy còn lại. Về mặt cấu trúc, đó là dạng vô định hình. - Dạng thù hình thứ hai của Carbon hay gặp trong kỹ thuật, đó là Graphit (than chì).
Cấu trúc Graphit gồm nhiều lớp Graphen song song với nhau và sắp xếp thành mạng lục giác phẳng (Hình 1. - Dạng thù hình thứ ba của Carbon là kim cương. Trong tinh thể kim cương, mỗi nguyên tử Carbon nằm ở tâm của hình tứ diện và liên kết với bốn nguyên tử Carbon cùng loại (Hình 1. 1 – Cấu trúc Graphit [5, Tr.
2 – Cấu trúc kim cương [5, Tr.3] Đến năm 1985, trong khi nghiên cứu về Carbon, Kroto và các đồng nghiệp đã khám phá ra một tập hợp lớn các nguyên tử Carbon kết tinh dưới dạng phân tử có dạng hình cầu kích thước cỡ nanomet, dạng thù hình này của Carbon được gọi là Fullerenes. Fullerenes là một lồng phân tử khép kín với các nguyên tử Carbon sắp xếp thành một mặt cầu hoặc mặt Elip. Fullerenes được biết đến đầu tiên là C60, có dạng hình cầu gồm 60 nguyên tử Carbon nằm ở đỉnh của khối 32 mặt tạo bởi 12 ngũ giác đều và 20 lục giác đều (Hình 1. Năm 1990, Kratschmer đã tìm thấy trong sản phẩm muội than tạo ra do sự phóng điện hồ quang giữa 2 điện cực Graphite có chứa C60 và các dạng Fullerenes khác như C70, C80 (Hình 1.
3 – Cấu trúc cơ bản của các Fullerenes: a) C60, b) C70, c) C80 [5, Tr.3] Năm 1991, khi quan sát bằng kính hiển vi điện tử truyền qua phân giải cao (HRTEM) trên sản phẩm tạo ra do phóng điện hồ quang giữa hai điện cực Graphit, Iijima đã phát hiện ra các tinh thể cực nhỏ, dài bám ở điện cực ca-tốt. Đó là ống Nano Carbon đa tường (MWCNT - Multi Wall Carbon Nanotube, Hình 1. Hai năm sau, 6 Iijima tiếp tục công bố kết quả tổng hợp ống Nano Carbon đơn tường (SWCNT - Single Wall Carbon Nanotube, Hình 1.4a), đó là các ống rỗng có đường kính từ 1-3 nanomet (nm) và chiều dài cỡ vài micromet (µm). Vỏ của ống gồm có các nguyên tử Carbon xếp đều đặn ở đỉnh của các hình lục giác đều.
a) Đơn tường b) Đa tường c) Bó ống đơn tường Hình 1. 4 – Các dạng cấu trúc của CNTs: a) SWCNT; b) MWCNT; c) bó SWCNTs [5, Tr.4] Ống Nano Carbon đơn tường có cấu trúc giống như là sự cuộn lại của một lớp than chì, độ dày một nguyên tử (còn gọi là Graphene) thành một hình trụ liền và được khép kín ở mỗi đầu bằng một nửa phân tử Fullerenes. Do đó CNTs còn được biết đến như là Fullerenes có dạng hình ống gồm các nguyên tử Carbon liên kết với nhau bằng liên kết cộng hoá trị SP2 bền vững. Ống Nano Carbon đa tường gồm nhiều ống đơn tường đường kính khác nhau, lồng vào nhau và đồng trục, khoảng cách giữa các lớp từ 0,34 nm đến 0,39 nm.
Ngoài ra, SWCNT thường tự liên kết với nhau để tạo thành từng bó xếp chặt (được gọi là SWCNTs Ropes - Hình 1.4c) và tạo thành mạng tam giác hoàn hảo với hằng số mạng là 1,7 nm. Mỗi bó có thể gồm hàng trăm ống SWCNT nằm song song với nhau và chiều dài có thể lên đến vài mm. Phát hiện mới về ống Nano Carbon cũng như những tính chất đặc biệt của nó đã thu hút nhiều sự quan tâm nghiên cứu và ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Sự góp mặt của CNTs đánh dấu sự ra đời của ngành khoa học vật liệu mới: các vật liệu dựa trên cơ sở Nano Carbon - vật liệu mới cho tương lai [5, tr.
Ứng dụng của công nghệ Nano. Công nghệ Nano hiện nay đã tác động đến các lĩnh vực khác nhau bao gồm y tế, ô tô, điện tử, viễn thông, quân sự, dệt may, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghiệp bao bì, công nghiệp thực phẩm v.v… Khoa học Nano và công nghệ Nano đã mở ra một loạt các nghiên cứu sáng tạo, ví dụ như áo chống đạn, thu nhỏ kích thước máy bay, hệ thống tự phục hồi, vật liệu hiệu suất cao trong điều kiện áp suất và nhiệt độ khắc nghiệt, động cơ Nano, vật liệu tổng hợp xương nhân tạo, cấy ghép tế bào, pin năng lượng mặt trời hiệu suất cao, khả năng chống rách của vải và vật liệu tự làm sạch. Nếu sắp xếp đúng các nguyên tử, có thể tạo ra một ống Nano Carbon có độ bền cao gấp hàng trăm lần so với thép, nhưng nhẹ hơn sáu lần. Các kỹ sư muốn chế tạo vật liệu xây dựng từ ống Nano Carbon, nhất là các vật liệu cho những thứ như ô tô và máy bay.
Nếu các phương tiện này nhẹ hơn có nghĩa là hiệu suất nhiên liệu tốt hơn, và độ bền gia tăng cũng sẽ giúp tăng tính an toàn cho hành khách [4]. Các ống Nano Carbon còn được sử dụng làm chất bán dẫn hiệu quả. Các nhà khoa học vẫn đang tìm cách dùng ống Nano Carbon để chế tạo bóng bán dẫn (transitor) trong bộ vi xử lý và các sản phẩm điện tử khác. Ứng dụng công nghệ Nano đã bao phủ toàn bộ toàn bộ các ngành khoa học, đưa thế giới tiến lên một nấc thang mới trong mọi lĩnh vực.
Công nghệ Nano được gọi là cuộc cách mạng công nghiệp tiếp theo, là một công nghệ then chốt của thế kỷ 21, sẽ cho phép sản xuất nhiều sản phẩm chất lượng cao với chi phí rất thấp.