Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài Trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu và đưa ra câu hỏi nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trình bày cơ sở lý thuyết, định nghĩa ba khái niệm: phong cách lãnh đạo chuyển dạng, Sự hài lòng trong công việc, động lực phụng sự công, các nghiên cứu trước và đưa ra giả thuyết. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Trình bày thiết kế nghiên cứu, cách chọn mẫu và các thước đo để thu thập dữ liệu. Ngoài ra Chương 3 cũng nêu lên cách thức xử lý dữ liệu bao gồm: Đánh giá độ tin cậy của thang đo thông qua hệ số Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, phân tích tương quan và cách xử lý hồi quy tuyến tính để xác định mối quan hệ giữa các biến.
6 Chương 4: Kết quả nghiên cứu Trình bày kết quả về đánh giá độ tin cậy của thang đo, phân tích nhân tố, phân tích tương quan và kết quả hồi quy tuyến tính để khẳng định xem mối quan hệ các biến có tồn tại hay không. Chương 5: Kết luận: Trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, nêu những hạn chế của nghiên cứu và trình bày đóng góp của nghiên cứu trong thực tiễn quản lý công. Ngoài ra, phần kết luận cũng đưa ra hướng nghiên cứu kế tiếp từ nghiên cứu này. Luận văn thạc sĩ Kinh tế 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương 2 sẽ giới thiệu cơ sở lý thuyết được rút ra từ các tài liệu về Phong cách lãnh đạo chuyển dạng, lý thuyết động lực phụng sự công và Sự hài lòng trong công việc.Từ cơ sở lý thuyết đó, đưa ra mô hình phục vụ cho nghiên cứu và các giả thuyết cần kiểm định.
Lãnh đạo và lý thuyết về lãnh đạo 2. Các quan điểm về lãnh đạo Lãnh đạo là một hoạt động đã xuất hiện từ khi xã hội loài người hình thành và là một trong những nhân tố đóng vai trò quyết định đến sự phát triển của xã hội và các tổ chức. Vì vậy nó là một trong những chủ đề được quan tâm hàng đầu của mọi tổ chức. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về lãnh đạo, mỗi quan niệm có những cách Luận văn thạc sĩ Kinh tế tiếp cận khác nhau.
Theo Terry (1972), “Lãnh đạo là một hoạt động gây ảnh hưởng đến con người nhằm phấn đấu một cách tự nguyện cho mục tiêu của nhóm”; hoặc theo Kotter (1998), lãnh đạo là một quá trình thúc đẩy nhóm gồm nhiều cá nhân tiến triển theo cùng một hướng bằng những cách thức không mang tính ép buộc. Lãnh đạo hiệu quả được định nghĩa là lãnh đạo tạo ra được những bước tiến triển mang tính lợi ích cao nhất và lâu dài của tập thể. Tùy theo khía cạnh nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có các định nghĩa khác nhau về lãnh đạo. Tuy nhiên dù nhìn nhận theo cách nào đi nữa, thì lãnh đạo có những đặc trưng cơ bản đó là quá trình tác động đến con người sao cho họ cố gắng một cách tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức.
Mục đích của chức năng lãnh đạo là làm cho tất cả mọi người, mọi thành viên nhận thức đầy đủ vai trò, trách nhiệm và thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Người lãnh đạo không những thúc đẩy, động viên, chỉ dẫn, hỗ trợ và đặt trách nhiệm của mình lên trước mọi người, hy sinh lợi ích cá nhân để hoàn thành các mục tiêu đã đề ra. Mà người 8 lãnh đạo phải quan tâm và hiểu biết về động cơ và mức độ sự sẵn lòng nhân viên hướng đến mục tiêu của tổ chức và kết quả đạt được làm cho họ thỏa mãn, hài lòng khi họ đóng góp công sức vào việc hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Bass (1990a) là người tiên phong khái niệm lãnh đạo theo phong cách, ông đã mô tả phong cách lãnh đạo: lãnh đạo ủy thác, lãnh đạo chuyển tác và lãnh đạo chuyển dạng.
Theo Bass (1990) nhà lãnh đạo theo phong cách chuyển dạng khuyến khích nhân viên hướng đến tầm nhìn của tổ chức như tầm nhìn của chính riêng mình, là người truyền cảm hứng để nhân viên có được cái nhìn dài hạn và tập trung vào nhu cầu tương lai. Nhà lãnh đạo theo phong cách chuyển dạng thường có cái nhìn toàn diện về các yếu tố của tổ chức. Nhà lãnh đạo theo phong cách chuyển tác lại nhận diện và đề ra nhiệm vụ công việc cho nhân viên và truyền đạt cho nhân viên hiểu mức độ hoàn thành công việc và mức thưởng tương xứng họ nhận được. Trong khi lãnh đạo ủy thác là cách các nhà lãnh đạo để cho nhân viên tự làm việc với nhau và không đưa ra quyết định.
Luận văn thạc sĩ Kinh tế 2. Các lý thuyết về lãnh đạo phân loại theo cách tiếp cận Tiếp cận theo đặc điểm cá nhân Lý thuyết này cho rằng một số cá nhân nhất định được sinh ra có những tố chất đặc điểm xã hội khiến họ trở thành nhà lãnh đạo vĩ đại. Vì lý thuyết phát biểu rằng nhà lãnh đạo là người thường khác biệt bởi các đặc điểm cá nhân, các nhà nghiên cứu buộc phải nhận dạng các đặc điểm định hình của nhà lãnh đạo (Bass, 1990a). Theo Robbins (1996), hạn chế của cách tiếp cận theo đặc điểm cá nhân: Chỉ bó hẹp và tập trung vào nhà lãnh đạo và không xét đến sự ảnh hưởng của nhân viên và các yếu tố khác.
Tiếp cận theo hành vi Bass (1990a) chỉ ra rằng hành vi của nhà lãnh đạo là gợi ý để khơi gợi hành vi của nhân viên. Hành vi của nhà lãnh đạo sẽ quyết định mức độ hoàn thành nhiệm vụ của nhân viên. Mô hình Lý thuyết X và Lý thuyết Y của McGregor đề xuất hai lý thuyết phân biệt của hành vi lãnh đạo: lý thuyết của ông cho rằng hành vi lãnh đạo dựa trên giả định về nhân viên. Giả định của Lý thuyết X là nhân viên không thích 9 công việc và sẽ né tránh nếu có thể, và hành vi quản lý bao gồm ép buộc nhân viên.
Lý thuyết Y của McGregor giả định nhân viên xem công việc như kinh nghiệm tích cực khi được tạo điều kiện thuận lợi. Theo thuyết Y, hành vi quản lý bao gồm khuyến khích, ủng hộ tích cực và khen hưởng. Cách tiếp cận theo hành vi nghiên cứu về những hành vi của nhà lãnh đạo hiệu quả và không hiệu quả; cách họ giao việc cho nhân viên, thời gian và địa điểm họ giao tiếp với những người khác và cách họ thực hiện vai trò của mình. Mô hình nghiên cứu theo hành vi đã góp phần quan trọng để hiểu hơn về lãnh đạo, chuyển dịch từ việc tập trung nghiên cứu đặc điểm cá nhân của nhà lãnh đạo sang hành vi của nhà lãnh đạo.
Hành vi có thể nhìn thấy được và học hỏi và liên quan trực tiếp đến chức năng được thực hiện. Không như đặc điểm cá nhân, những hành vi hiệu quả có thể đạt được thông qua huấn luyện đào tạo. Nếu việc huấn luyện có tác dụng, chúng ta có thể huấn luyện được vô vàn nhà lãnh đạo (Robbins, 1996). Tuy nhiên, hành vi nhà lãnh đạo có thể thích hợp trong tình huống này nhưng không thật sự Luận văn thạc sĩ Kinh tế phù hợp trong những tình huống khác.
Cách tiếp cận theo hành vi không thể khám phá được phong cách lãnh đạo phù hợp cho mọi tình huống (Helliegel và ctg, 2004). Tiếp cận theo tình huống Lãnh đạo hiệu quả khi nhà lãnh đạo thấy được khả năng của nhân viên trong từng tình huống cụ thể và có hành vi lãnh đạo phù hợp với tình huống đó (Blanchard, Zigarmi và Nelson, 1993). Tuy nhiên, cách tiếp cận này có rất nhiều hạn chế vì không đưa ra định nghĩa chung mặc dù có thể thuyết minh được một số lý do về phong cách lãnh đạo hiệu quả (Yukl, 2002). Tiếp cận toàn diện Được phát triển bởi Bass và Avolio (1994, 1997) mô tả các thành phần hành vi lãnh đạo.
Mô hình này tối ưu phạm vi rộng các dạng thức hành vi lãnh đạo. Mức độ tương tác thấp nhất là lãnh đạo ủy thác, đến lãnh đạo chuyển tác và mức tương tác cao nhất là lãnh đạo chuyển dạng. Những phong cách lãnh đạo này có tác động trực 10 tiếp đến các yếu tố đầu ra của tổ chức và cá nhân (Bass, 1990a; Yukl và Van Fleet, 1992). Lãnh đạo ủy thác là người lãnh đạo cực kỳ thụ động, giao phó trách nhiệm cho nhân viên, mức độ tương tác thấp, không gây ảnh hưởng tích cực cho nhân viên, thiếu sự quan tâm của người lãnh đạo.
Lãnh đạo chuyển tác là mối quan hệ giao dịch và mối quan hệ này là dựa trên sự trao đổi giữa nhà lãnh đạo và nhân viên cho sự nỗ lực, năng suất làm việc bằng phần thưởng và lòng trung thành. Lãnh đạo theo phong cách chuyển dạng chú trọng thúc đẩy động lực và cảm xúc tích cực của nhân viên bằng cách đưa ra tầm nhìn tương lai (Bass 1997). Phong cách lãnh đạo không chỉ thể hiện nghệ thuật chỉ huy, định hướng và tài năng của người lãnh đạo mà còn thể hiện tính khoa học và tổ chức. Phong cách lãnh đạo thể hiện trong mối quan hệ với sự tác động của nhà lãnh đạo lên trên những người nhân viên, làm cho người nhân viên cảm nhận được sự tin tưởng, sự ngưỡng mộ, sự trung thành và sự tôn trọng hướng tới nhà lãnh đạo và được động viên làm Luận văn thạc sĩ Kinh tế việc nhiều hơn, toàn tâm toàn ý phụng sự tổ chức.
Trong nghiên cứu này tác giả sẽ tìm hiểu về phong cách lãnh đạo chuyển dạng. Phong cách lãnh đạo chuyển dạng (Transformational leadership) Trên nền tảng là công bộc của dân, Greenleaf (1977) cho rằng các nhà lãnh đạo là đầy tớ và tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của người dân. Các nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng xây dựng sự công bộc của dân và xây dựng lãnh đạo chuyển dạng có sự tương đồng. Công bộc của dân có rất nhiều điểm chung với việc xem xét và kích thích trí tuệ cá nhân của nhà lãnh đạo chuyển dạng (Van, 2011).
Phong cách lãnh đạo chuyển dạng là một trong những mô hình lãnh đạo có ảnh hưởng nhất của Burns (1978). Ông mô tả lãnh đạo chuyển dạng là quá trình trong đó “những người lãnh đạo và những người dưới quyền tác động lẫn nhau làm tăng lên những mức độ của đạo đức và động viên”. Do đó, ông cho rằng lãnh đạo chuyển dạng như là sự “gắn bó chặt chẽ với các giá trị bậc cao hơn”.