Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây T. gigantea Phân loại thực vật Cây T. gigantea thuộc họ Acanthaceae (họ Ô rô), họ phụ Ancanthoideae, bộ Trichanthereae (chi thực vật có hoa), giống Hera; loài Trichanthera gigantea, tên khoa học là Trichanthera gigantea.
gigantea có nguồn gốc ở chân đồi Andean của Colombia, nhưng cũng được nhưng cũng được tìm thấy ở dọc bờ sông và khu vực Hình 1. Cây Trichanthera gigantea đầm lầy từ Costa Rica đến miền Bắc nước Mỹ (Mc Dade, 1983) [65] và các rừng mưa từ Trung Mỹ đến Peru và lưu vực Amazon, vùng đồng cỏ trên các đảo ở vùng cửa sông Amazon (Record và Hess, 1972) [73]. Mutis là người đầu tiên mô tả về cây T. Trích dẫn theo Rosales (1997) [75], Kunt đề xuất thành lập giống Trichanther vào năm 1817, sau đó tới năm 1847 Nees dựa trên cơ sở những mô tả ban đầu đặt tên giống Trichanthera.
Đặc tính sinh thái Cây T. gigantea thích nghi được với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau. Cây có thể sống ở độ cao khoảng từ 0 đến 2000 m. Cây thích nghi tốt với khí hậu nhiệt đới ẩm và lượng mưa hàng năm từ 1.
gigantea phát triển được trong điều kiện đất acid, kém màu mỡ nhưng thoát nước tốt. Ở Việt Nam cây T. gigantea cho thấy khả năng phát triển tốt ở nơi có khí hậu nóng ẩm của miền Bắc (Nguyen Ngoc Ha và Phan Thi Phan, 1995) [69] hay ở Miền Trung với lượng mưa hàng năm 3.415 mm, nhiệt độ 21-290C, ẩm độ 79-91% (Nguyen Xuan Ba và Le Duc Ngoan, 2003) [70] và thích hợp cả với Miền Nam với lượng mưa hàng năm 1.700 mm, nhiệt độ trung bình 26-280C và ẩm độ 78 - 88% (Nguyễn Thị Hồng Nhân, 1998) [28]. Đặc điểm sinh vật T.
gigantea là loại cây bụi hoặc có thể cao đến 5 m. Cây có tán tròn, nhánh bậc 2, thân có nhiều mấu lồi nhỏ, phân bố tạo thành 2 - 4 đường bên ở hai phía dọc theo thân. Khi còn non thân mềm nhiều nước, sau trồng khoảng 6 tháng, cây sinh trưởng cứng cáp, thân màu nâu, hoá gỗ cứng phía ngoài, phía trong mềm nhưng không hoá bấc. gigantean hình cánh quạt dài đến 26 cm và rộng 14 cm thuôn nhọn về chót lá, bản hẹp, cuống lá dài 1-5 cm, có màu xanh sẫm, mọc đối chéo chữ thập, lá đơn nguyên, giòn, có lông nhỏ mịn và hơi ráp, khi khô lá ngả mầu đen.
Mỗi quả của cây T.123 quả/kg và 4. Tuy nhiên, hạt cây thường khó hoặc hiếm khi nảy mầm nên tỷ lệ trồng bằng hạt chỉ đạt 0-2% (CIPAV, 1996) [54] nên người ta thường chọn cách nhân giống bằng hom. Theo Mc Dade (1983) [65] nguyên nhân là do cây không tự thụ phấn khi nhụy hoa không có hạt phấn. gigantea có khả năng ra rễ từ gốc đến ngọn, ngay cả một mẩu lá nhỏ cũng có khả năng ra rễ, tuy nhiên lá không có khả năng tạo thành cây mới.
Rễ là một trong những bộ phận giúp cây T. gigantea có thể nhân giống, phần thân trưởng thành tại vị trí gần đất sẽ hình thành rễ, các rễ này khi tiếp xúc với đất sẽ hình thành cây mới (Gomez and Murgueitio, 1991) [58]. e 5 Bên cạnh rễ, người ta còn dùng hom để nhân giống cây T. gigantea có khả năng nhân giông vô tính rất nhanh, trong 6 tháng từ một cây con có thể cho ra ít nhất 100 cây mới.
Tuy nhiên, khi sử dụng các đoạn hom có đường kính 4 cm, dài 50 cm để nhân giống thì tỷ lệ nảy mầm có thể đạt 95%. Nhưng khi sử dụng các đoạn hom có đường kính lớn hơn (3,2-3,8 cm) và chiều dài ngắn hơn (20-30 cm) để nhân giống thì tỉ lệ mọc mầm có thể sẽ thấp hơn 50% (Acero, 1985) [49]. gigantea có hoa nở theo chu kỳ nhưng cây chỉ ra hoa ở vùng miền Nam Việt Nam còn vùng miền Bắc chưa thấy cây T. gigantea ra hoa.
gigantea là cây ưa ẩm, chịu bóng râm vừa, có tốc độ sinh trưởng đều trong năm. Tuy nhiên gặp sương muối cây bị táp lá và sinh trưởng kém. gigantea rất nhạy cảm với phân đạm; khi thiếu đạm lá ngả mầu vàng, nhưng chỉ một lượng nhỏ phân đạm cũng làm lá xanh trở lại. Cây được trồng chủ yếu bằng phương pháp giâm cành và cành giâm có thể nẩy mầm tốt ở các mùa trong năm.
Cây ưa ẩm vừa phải, nếu ở nơi thiếu nước thì năng suất bị hạn chế vì cây có lá mỏng và to bản nên thoát nước rất mạnh. gigantea ít bị sâu bệnh nhưng khi trồng với mật độ cao và đất quá ẩm thì thường bị bệnh thối nhũn lá, hầu hết lá chuyển thành màu xám đen và nhũn với tốc độ lây lan rất nhanh. Tuy nhiên, chữa trị hết sức đơn giản, chỉ cần cắt bỏ những cây bị sâu bệnh, sau đó thu hoạch toàn bộ, làm sạch cỏ, bón bổ sung phân lân và vôi. e 6 Giá trị sử dụng trong chăn nuôi T.
gigantea là loại cây trồng mới sử dụng làm thức ăn cho gia súc, được nhập vào Việt Nam năm 1993 từ nước Côlômbia, đây là loại cây thân bụi, lá to, năng suất khá cao, giàu protein, khoáng và vitamin. Hiện nay, cây T. gigantean được trồng nhiều ở miền Tây Nam Bộ, Tây Nguyên và vùng núi phía Bắc nước ta để làm thức ăn cho gia súc, gia cầm, thỏ và cá. Kết quả cho thấy sử dụng loại cây này đã mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt trong chăn nuôi.
gigantea có hàm lượng nước trong lá cao, từ 80-85% khi lá ở độ tuổi 30-45 ngày, vì vậy lá mềm mại nhưng lại khó phơi khô; tỷ lệ protein thô trong VCK của lá dao động từ 18-26% tùy thuộc vào tuổi của lá; trong protein hầu hết là protit, nitơ phi protit rất ít; tỷ lệ lipit thấp, khoảng 2-3% VCK; tỷ lệ xơ thô thấp, khoảng 10-18% VCK tùy theo tuổi của lá; tỷ lệ khoáng rất cao (20-25% VCK), hàm lượng canxi cao hơn rất nhiều so với các loại cây thức ăn khác, do đó có thể sử dụng bột lá T. gigantea như một nguồn cung cấp can xi cho vật nuôi. Tỷ lệ protein và khoáng trong VCK của lá cao đã làm cho tỷ lệ dẫn xuất không chứa nitơ thấp hơn so với một số loại lá khác, nó dao động từ 30-40% VCK. Tỷ lệ lipit và dẫn xuất không chứa nitơ trong VCK đều thấp dẫn đến năng lượng của bột lá thấp.
Đây là điều cần lưu ý khi phối hợp bột lá vào khẩu phần ăn của vật nuôi; bổ sung thêm dầu, mỡ để bù đắp năng lượng thiếu hụt là yêu cầu bắt buộc khi bổ sung bột lá vào khẩu phần ăn của gia cầm. Trong thí nghiệm kiểm tra các chất kháng dinh dưỡng (Rosales và Galindo, 1987) [74] chứng minh rằng, trong cây T. gigantea không có alkaloid hay tanin, hàm lượng sanponin và steroid thấp. Hàm lượng phenol tổng số và steroid là 450 và 6,2 ppm.
Bằng phương pháp tiêu hóa dạ cỏ để xác định tỷ lệ tiêu hoá đối với lá cây T. gigantea thấy rằng tỷ lệ phân giải chất khô là 77%. gigantea có thể thu hoạch lứa đầu vào lúc 4-6 tháng sau khi trồng, năng suất đạt 15,64 đến 16,74 tấn/ha (thân lá tươi) với mật độ trồng 40. Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên 50 tấn/ha/năm; khi trồng với mật độ 17.690 cây/ha (khoảng cách 0,75m x 0,75m) và khoảng cách cắt (KCC) 1,5 - 3 tháng một lần, năng suất bình quân đạt 17 tấn/ha/lứa ở năm thứ 2 trở đi.
Sản lượng sinh khối (lá tươi và thân) đạt trên dưới 100 tấn/ha/năm. gigantea có khả năng tái sinh mạnh mẽ, ngay cả trong điều kiện thu hoạch nhiều lần mà không cung cấp phân bón. Điều này cho thấy quá trình tổng hợp nitơ có thể xảy ra ở phần rễ thông qua hoạt động của Mycorrhiza hay những vi sinh vật khác. gigantea chịu được cắt liên tục nhiều lần trong năm vì hình thành nhánh non rất tốt.
Tuy nhiên, tốc độ tái sinh chậm nên trong năm đầu có thể thu được khoảng 4 lứa, các năm sau khoảng 5-6 lứa/năm. Cắt ngang phần thân lá mà gia súc có thể ăn được. gigantea sau thu cắt Sau khi thu cắt nên để héo rồi mới cho gia súc ăn hoặc có thể ủ chua với cám hoặc bột sắn/bã sắn. theo tỷ lệ 3 - 5% cám (tính theo khối lượng lá tươi).
Nhiều đối tượng vật nuôi có thể sử dụng thân lá cây thức ăn này, như bò, dê, lợn, gà, cá. gigantea giàu protein và sắc tố do đó ngoài cho vật nuôi ăn tươi còn có thể chế biến thành bột lá bổ sung vào thức ăn của gia cầm. Mặc dù năng suất T. gigantea không cao nhưng phân bố sinh khối đều trong năm, đặc biệt có tỷ lệ lá cao vào lúc giáp vụ nên T.
gigantea là cây thức ăn xanh tốt e 8 trong vụ đông - xuân. Có thể sử dụng lá T. gigantea như là thuốc chữa bệnh táo bón cho gia súc mà không gây độc hại. Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng của cây thức ăn Có nhiều yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất, chất lượng cây trồng: khí hậu, đất, giống, nước, sâu bệnh, môi trường, khoảng cách giữa các lần thu cắt, phân bón… trong số đó, yếu tố phân bón và khoảng cách cắt đóng vai trò quan trọng, cần được nghiên cứu.
Ảnh hưởng của phân bón Phân bón là những chất, hợp chất có chứa một hoặc nhiều nguyên tố dinh dưỡng thiết yếu cho cây trồng, nhằm thúc đẩy sự phát triển, sinh trưởng của cây trồng, cung cấp dinh dưỡng cho đất, có thể làm thay đổi chất đất phù hợp với nhu cầu của loại cây trồng. Lượng phân bón nhiều hay ít và các loại phân bón khác nhau từ đó sẽ dẫn đến sự khác nhau về năng suất, sản lượng, thành phần các chất dinh dưỡng của cây trồng. Theo tác giả Từ Quang Hiển và cs (2002) [10] hàng năm chúng ta cần bón bổ sung một lượng phân bón nhất định cho cây trồng để bù đắp sự thiếu hụt dinh dưỡng trong đất. Tác giả cho biết, cứ mỗi năm, một bãi chăn thả với sản lượng cỏ khô khoảng 2,5 tấn/ha/năm (bãi chăn thuộc loại trung bình) sẽ tiêu tốn khoảng 70 kg N; 7,5 kg P; 60 kg K2O và 37 kg Ca/ha do đó phải bù đắp một lượng phân bón lớn hơn thế.
Phân đạm Trong 13 loại dưỡng chất thiết yếu cho cây trồng thì đạm đứng vị trí hàng đầu. Cây trồng hấp thu nitơ từ đất dưới 2 dạng ion: nitơ oxy hóa (NO3-) và nitơ khử (NH4+), sau đó ion kết hợp với carbohydratio tạo thành aminoacids, amides, amines; các aminocaid kết hợp lại với nhau tạo thành protein (Ngô Ngọc Hưng và cs 2004) [18]. Do vậy, nếu cây được cung cấp nitơ cao thì hàm lượng protein trong cây sẽ cao.