chương 1 mục 2 của thông tư này có quy định như sau: “ 2.Trường hợp đơn vị được kiểm toán ký hợp đồng kiểm toán với một doanh nghiệp kiểm toán từ 3 năm liên tục trở lên, tính từ ngày Nghị định số 105/2004/NĐ-CP có hiệu lực thì cứ sau 3 năm phải yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán thay đổi: a) Kiểm toán viên hành nghề chịu trách nhiệm kiểm toán và ký tên trên báo cáo kiểm toán; b) Người chịu trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán là Giám đốc (hoặc người được uỷ quyền) của doanh nghiệp (hoặc chi nhánh doanh nghiệp) kiểm toán. Trường hợp Ban Giám đốc doanh nghiệp kiểm toán hoặc lãnh đạo chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán chỉ có một người là kiểm toán viên hành nghề thì đơn vị được kiểm toán chỉ được ký hợp đồng kiểm toán với doanh nghiệp kiểm toán hoặc chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán đó nhiều nhất là 3 năm liên tục tính từ ngày Nghị định số 105/2004/NĐ-CP có hiệu lực và từ năm thứ 4 trở đi phải chuyển sang ký hợp đồng kiểm toán với doanh nghiệp kiểm toán khác. Yêu cầu doanh nghiệp kiểm toán thay đổi kiểm toán viên hành nghề và người chịu trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán phải được ghi rõ trong hợp đồng kiểm toán.” 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ngoài ra nhằm tăng cường tính độc lập khách quan của kiểm toán viên mà đặc biệt là các kiểm toán viên cho các công ty niêm yết, luật kiểm toán độc lập (2011) cũng có quy định tại điều 58 như sau : “Doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam không được bố trí kiểm toán viên hành nghề thực hiện kiểm toán cho một đơn vị có lợi ích công chúng trong năm (05) năm tài chính liên tục.” Và gần đây nhất trong nghị định 17/2012/NĐ-CP do chính phủ ban hành ngày 13/3/2012 hướng dẫn việc thi hành luật kiểm toán độc lập cũng có quy định tại mục 5 điều 16 về báo cáo kiểm toán: “Kiểm toán viên hành nghề không được ký báo cáo kiểm toán cho một đơn vị kiểm toán quá ba (03) năm liên tục.” Qua các văn bản quy phạm pháp luật trên có thể thấy rằng tuy chưa có quy định về luân chuyển kiểm toán ở cấp độ công ty nhưng vấn đề luân chuyển kiểm toán viên bắt buộc ở Việt Nam đã được quy định. Tuy nhiên trên thực tế, do những nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan từ phía doanh nghiệp kiểm toán nên việc thực hiện luân chuyển này được thực hiện chưa đầy đủ.
Trong nghiên cứu của tác giả Trần Khánh Lâm (2011) dựa trên các biên bản về kết quả kiểm tra hoạt động kiểm soát chất lượng năm 2009 của các công ty kiểm toán được thực hiện bởi Bộ Tài Chính và VACPA cho thấy các công ty kiểm toán quy mô lớn thực hiện việc luân chuyển kiểm toán viên khá chặt chẽ. Trong khi đó, công ty có quy mô nhỏ và trung bình chiếm phần lớn trong mẫu nghiên cứu thực hiện việc luân chuyển kiểm toán viên không đầy đủ và có sự chênh lệch lớn giữa các công ty. Nguyên nhân là do nguồn nhân lực của họ yếu kém hơn so với các công ty quy mô lớn. Tóm lại, kết quả cho thấy trên thực tế các công ty kiểm toán quy mô vừa và nhỏ thường không có sự luân chuyển kiểm toán viên phụ trách thực hiện kiểm toán.
Theo tác giả, nguyên nhân chủ quan là do các công ty này muốn cắt giảm chi phí kiểm toán và đồng thời cũng tạo sự “thân quen” với khách hàng nhằm duy trì hợp đồng kiểm toán cho các năm tiếp theo. Nguyên nhân khách 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com quan thường là do các công ty này không đủ số lượng kiểm toán viên để luân phiên thực hiện kiểm toán. Đó cũng chính là một trong những lý do khiến chất lượng kiểm toán trong nhóm công ty này không cao. Ngoài ra có thể thấy rằng một nguyên nhân quan trọng nữa khiến việc luân chuyển này không được thực hiện đầy đủ là do chưa có chế tài xử phạt các công ty kiểm toán vi phạm dù luật kiểm toán độc lập đã ra đời nhưng việc đưa luật vào thực tế còn phải chờ các thông tư hướng dẫn việc thực hiện và chế tài phù hợp.
Mặt khác, với vai trò kiểm soát chất lượng, Bộ Tài Chính và VACPA trong công tác kiểm tra của mình về vấn đề luân chuyển này cũng chỉ dừng lại ở việc nhắc nhở và khuyến nghị các doanh nghiệp kiểm toán mở sổ theo dõi hợp đồng và sổ theo dõi báo cáo kiểm toán đã phát hành để làm cơ sở luân chuyển kiểm toán viên chính theo quy định. Tóm lại, tại Việt Nam, một nước có nền tài chính khá non trẻ so với các nước trong khu vực, việc luân chuyển kiểm toán viên chịu trách nhiệm ký báo cáo kiểm toán đã được quy định trong các văn bản luật. Tuy nhiên trên thực tế, do chưa có chế tài xử phạt nên việc luân chuyển này chỉ mang tính tự giác từ phía các công ty kiểm toán và đơn vị được kiểm toán. Từ đó nảy sinh nguy cơ đe dọa đến tính độc lập của kiểm toán viên cũng như chất lượng kiểm toán.
Từ những vấn đề trên, đề tài này được thực hiện nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữa việc luân chuyển kiểm toán viên với chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính tại Việt Nam nhằm xem xét tính hợp lý của các quy định về luân chuyển kiểm toán viên hiện nay, đồng thời giải thích cơ sở khoa học của những quy định này. Qua đó, đề tài góp phần hoàn thiện khung pháp lý về luân chuyển kiểm toán viên tại Việt Nam và là một tài liệu tham khảo hữu ích cho các công ty kiểm toán, sinh viên chuyên ngành kế toán kiểm toán cũng như các nhà lập pháp về vấn đề này. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.Tổng quan về Chất lượng kiểm toán và các yếu tố ảnh hưởng 2. Một số định nghĩa về chất lượng kiểm toán Chất lượng kiểm toán được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau.
Theo đoạn 09 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA 220 trước đây ban hành kèm theo Quyết định số 28/2003/QĐ-BTC ngày 14/3/2003 thì “chất lượng kiểm toán là mức độ thỏa mãn của các đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán về tính khách quan và độ tin cậy vào ý kiến của kiểm toán viên, đồng thời thỏa mãn mong muốn của các đối tượng được kiểm toán về những ý kiến đóng góp của kiểm toán viên nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh trong một khoảng thời gian định trước với giá phí hợp lý.” Trong khi đó, hệ thống chuẩn mực kiểm toán mới ban hành kèm theo thông tư số 214/2012/TT-BTC ngày 6/12/2012 thì không đưa ra định nghĩa cụ thể về chất lượng kiểm toán nhưng theo đoạn 06 Chuẩn mực kiểm soát chất lượng số 220 về kiểm soát chất lượng hoạt động kiểm toán có xác định “mục tiêu của kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán là thực hiện các thủ tục kiểm soát chất lượng ở cấp độ từng cuộc kiểm toán nhằm cung cấp cho kiểm toán viên và doanh nghiệp kiểm toán sự đảm bảo hợp lý rằng: (a ) Cuộc kiểm toán đã tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp, pháp luật và các quy định có liên quan; (b) Báo cáo được doanh nghiệp kiểm toán phát hành là phù hợp với hoàn cảnh cụ thể”.[7] Khác với các sản phẩm của nghề nghiệp khác, chất lượng sản phẩm kiểm toán không dễ dàng quan sát hay kiểm tra nhưng người sử dụng dịch vụ lại cần biết các yếu tố tạo nên chất lượng kiểm toán để họ có thể lựa chọn và tin tưởng vào sản phẩm dịch vụ mà họ đang sử dụng. Ngược lại, đối với người cung cấp dịch vụ kiểm toán (bao gồm các công ty kiểm toán và các kiểm toán viên) cũng rất cần biết những yêu cầu về 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com chất lượng từ phía xã hội để họ có thể cung cấp dịch vụ phù hợp và dần thu hẹp khoảng cách giữa sự mong đợi của công chúng với khả năng thực hiện của kiểm toán viên. Do đó, nhu cầu về đo lường chất lượng kiểm toán cũng như đo lường sự thỏa mãn của người sử dụng báo cáo kiểm toán trở nên vô cùng cấp thiết để qua đó đánh giá chất lượng báo cáo tài chính. Xuất phát từ thực tế trên, những công trình nghiên cứu trên thế giới cũng đã đưa ra nhiều cách tiếp cận về chất lượng kiểm toán cả định tính lẫn định lượng.
Theo Krishman và Schauer (2001) chất lượng kiểm toán được hiểu là mức độ công ty kiểm toán tuân thủ các chuẩn mực nghề nghiệp trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán [35]. Quan điểm này cho rằng các chuẩn mực kiểm toán hiện hành là một thước đo hoàn hảo cho chất lượng kiểm toán. Khi các kiểm toán viên càng tuân thủ các chuẩn mực thì chất lượng kiểm toán càng cao. Tuy nhiên, các quan điểm phản đối cho rằng định nghĩa này quá thiên về mặt định tính.
Mặt khác, người sử dụng lẫn đơn vị được kiểm toán khó có thể giám sát việc tuân thủ mực của các kiểm toán viên và nếu như các kiểm toán viên thực sự đã tuân thủ chuẩn mực thì bản thân chuẩn mực cũng chưa thực sự hoàn hảo khi đuợc áp dụng trong nhiều tình huống thực tế. Một số nhà nghiên cứu khác như DeAngelo (1981) cho rằng chất lượng kiểm toán được xem xét dựa trên hai khía cạnh đó là : (a) khả năng kiểm toán viên phát hiện ra các khiếm khuyết trong hệ thống kế toán của khách hàng và (b) báo cáo các khiếm khuyết này [17]. Định nghĩa này tuy khá rõ ràng về mặt lý thuyết nhưng quá nhấn mạnh đến tính kiểm tra trong công việc kiểm toán mà quên rằng mục tiêu của kiểm toán không chỉ dừng lại ở việc kiểm tra và phát hiện các sai sót mà còn phải trợ giúp doanh nghiệp cải thiện hệ thống kiểm soát nội bộ (thông qua thư quản lý) và sửa chữa những sai sót trên báo cáo tài chính của khách hàng. Và khi các gian lận sai sót này không được sửa chữa thì các kiểm toán viên mới có trách nhiệm trình bày trên báo cáo kiểm toán.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Còn Theo Jackson, Moldrich, & Roebuck (2008), chất lượng kiểm toán được thể hiện ở hai hình thức là “chất lượng thực” (actual quality) và “chất lượng về mặt cảm nhận” (perceived quality) [27].