Đặt vấn đề Cây ngô (Zea mays. L) là cây lương thực đứng thứ ba thế giới sau lúa mì và lúa nước. Với đặc tính thích ứng rộng trong các điều kiện thời tiết khí hau, đất đai nên cây ngô được trồng tất cả các vùng miền ở Việt Nam. Ngô được sử dụng làm lương thực, chế biến thức ăn tươi, thức ăn gia súc trong ngành chăn nuôi và cung cấp nguyên liệu cho nhiều sản phẩm công nghiệp.
Ngoài ra ngô còn là nguyên liệu dé sản xuất nhiên liệu sinh học được quan tâm phát triển trong giai đoạn hiện nay khi mà nguồn năng lượng, dầu mỏ, than đá đang dần cạn kiệt. Bác Ái là huyện ở miền núi của tỉnh Ninh Thuận, đất dai sản xuất nông nghiệp chủ yếu là đất đồi núi nghèo dinh dưỡng và khí hậu khắc nghiệt. Hiện nay diện tích ngô trên địa bàn huyện Bác Ái giảm mạnh, từ 3.012 ha trong năm 2015 giảm còn 2. Sản xuất nông nghiệp của huyện Bác Ái năm 2019 thì diện tích sản xuất các giống ngô lai như LVN10, VN8960 là 534 ha (trong tổng số 2.945 ha), điện tích còn lại là các giống ngô nếp khác.
Do chỉ phí đầu tư cho ngô nếp thấp, chất lượng lại cao hơn các giống ngô lai và được thị trường ưa chuộng (giá ngô nếp khoảng 15.000 đồng/kg còn giá ngô lai khoảng 5.300 đồng/kg) nên được nông dân huyện Bác Ái trồng phổ biến. Tuy nhiên, qua các vụ sử dụng sản xuất còn lạc hậu làm cho cây sinh trưởng phát triển kém đồng đều, khả năng chống chịu sâu bệnh, bất thuận giảm và cuối cùng dẫn đến tiềm năng năng suất giảm so với giống gốc. Do đó, dé khắc phục tình trạng này cần có biện pháp kỹ thuật canh tác phù hợp phát triển giống ngô nếp thích hợp nhằm nâng cao năng suất và khả năng chống chịu của giống ngô nếp bản địa huyện Bác Ai. Theo quan điểm của các nhà khoa học hiện nay, việc tăng năng suất cây trông chủ yêu dựa vào giông và phân bón.
Song đê có năng suât cây trông cao không thê thiếu được các biện pháp canh tác về thời vụ, mật độ gieo trồng và liều lượng phân bón đạm, kali thích hợp cho ngô nếp. Chính vì những đặc tính đó mà cần có những nghiên cứu nhằm giải quyết những tồn tại trên để góp phần gia tăng năng suất, sản lượng ngô nếp và hiệu quả kinh tế. Với phương thức canh tác còn lạc hậu và các nghiên cứu về ảnh hưởng mật độ, phân bón đến năng suất cây ngô chưa được nghiên cứu nhiều tại Ninh Thuận thì dé tài “Anh hưởng của khoảng cách gieo trồng, lượng phân đạm và kali đến sinh trưởng, phát triển và năng suất của giống ngô nếp bản địa mới phục trang tại Bác Ái, Ninh Thuận” là cần thiết thực hiện nhằm nâng cao năng suất cây ngô và phát triển kinh tế - xã hội tại Ninh Thuận từ cây ngô. Mục tiêu Xác định được khoảng cách gieo trồng, lượng phân đạm và kali thích hợp cho giống ngô nếp bản địa mới phục tráng tại Bác Ái, Ninh Thuận sinh trưởng và phát triển tốt, đạt năng suất cao và mang lại hiệu quả kinh tế.
Yêu cầu Thí nghiệm được thực hiện theo Quy phạm khảo nghiệm về giá trị canh tác và giá trị sử dụng của giống ngô QCVN 01 - 56:2011 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Bồ trí thí nghiệm đồng ruộng, theo dõi, phân tích và đánh giá đặc tính nông học, năng suất của giống ngô nếp mới phục tráng dưới tác động bởi các khoảng cách gieo trồng, lượng phân dam va kali. Lượng toán hiệu quả kinh tế của các nghiệm thức thí nghiệm. Thu thập số liệu đồng ruộng, xử lý số liệu đảm bảo độ tin cậy.
Giới hạn đề tài Giống ngô nếp mới phục tráng được khảo sát ở ba khoảng cách hàng, ba khoảng cách cây, năm lượng phân đạm và ba lượng phân kali và được thực hiện trong 2 vụ liên tiếp trên nền đất cát pha thịt tại xã Phước Thành, huyện Bác Ái, tỉnh Ninh Thuận. Chương | TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1.Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và ở trong nước Theo số liệu thống kê từ Tổng cục hải quan năm 2017 Việt Nam đã nhập khẩu 7,7 triệu tan ngô trị giá 1,5 tỷ USD, giảm 8,5% về lượng và giảm 10,06% về trị giá so với năm 2016. Gía nhập bình quân 194,67 USD/tan, giam 1,7%. Nhu vay, nhu cầu ngô ở nước ta trong thời gian tới là rất lớn.
Theo chiến lược của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn đến năm 2020 sản lượng ngô của Việt Nam đạt 8 - 9 triệu tắn/năm dé dam bảo cung cấp day đủ cho nhu cầu sử dụng trong nước. Ngô là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới. Châu Á là khu vực tiêu thụ ngô lớn nhất thế giới. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực đứng thứ hai sau gạo.
Tuy nhiên, so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì năng suất ngô ở nước ta vẫn thuộc loại khá thấp. Năm 2018, theo thống kê của ngành nông nghiệp, sản lượng ngô đạt khoảng 4,91 triệu tấn, giảm 4,0% so với năm 2017. Tổng diện tích trồng ngô trên cả nước là 1,04 triệu ha, giảm 5,5%. Sản lượng ngô thu hoạch trên cả nước không đáp ứng được nhu cầu tiêu thụ lớn trong nước dẫn đến hàng năm Việt Nam vẫn phải nhập khẩu một lượng lớn ngô hạt (Bộ Công thương, 2019).
Ngô là cây ngũ cốc nuôi sống gần 1/3 dân số toàn cầu, ở các nước trồng ngô nói chung đều sử dụng ngô làm lương thực ở các mức độ khác nhau. Giá trị dinh dưỡng của ngô trong hat bao gồm 70 - 75% đường, tinh bột, 8 - 10% protein và 4 - 5% tinh dầu. Một trong những sản phẩm quan trọng từ cây ngô chính là tinh bột, tỉnh bột ngô có các ứng dụng trực tiếp và gián tiếp khác nhau như làm lương thực, làm nguyên liệu chế biến thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và một số ngành công nghiệp khác. [Theo Trần Thị Thu Hoài và cs.] Ngô là nguyên liệu cho các nhà máy sản xuât rượu côn, tinh bột, dâu, glucoza, bánh kẹo.những năm gần đây, ngô đang là nguồn nguyên liệu chính sản xuất ethanol thay thế nguồn năng lượng hoá thạch đang cạn kiệt dần.
Năm 2011, Nước Mỹ đã sử dụng 45% sản lượng ngô dé sản xuất ethanol (Necsci. Ngoài ra, bắp ngô non có chứa nhiều chất dinh dưỡng và nhiều loại vitamin được sử dụng như một loại rau sạch cao cấp. Nghé trồng ngô làm rau ăn tươi và chế biến phục vụ xuất khẩu đang phát triển rất mạnh và mang lại hiệu quả cao ở Thái Lan, Đài Loan (Chamnan, 1994). Ngoài ngô rau, các loại ngô nếp, ngô đường được dùng ăn tươi hoặc đóng hộp cũng là một loại thực phẩm cung cap cho tiêu dùng và xuất khẩu có giá trị.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới So với lúa mỳ và lúa nước, ngô đang đứng đầu về năng suất và sản lượng đứng thứ 2 về diện tích (FAOSTAT, 2020). Nhờ vị trí vai trò quan trọng trong nền kinh tế nên sản suất ngô trên thế giới luôn được quan tâm và ngày càng phát trién. Diện tích, năng suất và sản lượng ngô thế giới từ năm 2015 - 2019 Năm Diện tích (triệu ha) Năng suất (tan/ha) Sản lượng (triệu tân) 2015 191,28 5,50 1.148,49 Nguôn: FAOSTAT, 2020 Số liệu Bang 1.1 cho thấy, năm 2015 diện tích ngô thế giới 191,28 triệu ha, năng suất ngô trung bình 5,50 tan/ha va sản lượng 1.052,61 triệu tấn; đến năm 2016, diện tích ngô trên thế giới giảm xuống còn 164,49 triệu ha, tuy nhiên sản lượng đạt 1.127,35 triệu tan, tăng 74,74 triệu tan so với năm 2015 do năng suất trung bình tăng lên 5,74 tan/ha. Từ năm 2017 - 2019, diện tích ngô thế giới tăng lên khá cao, đao động từ 197 - 198 triệu ha, năng suất trung bình đạt > 5,7 tan/ha và sản lượng dao động từ 1124 - 1.
Trên thế giới, Trung Quốc là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất, năm 2015 diện tích ngô của Trung Quốc đạt 45,00 triệu ha, chiếm 23,5% tổng diện tích của toàn thế giới; tuy nhiên, đến năm 2019 diện tích trồng ngô của Trung Quốc giảm xuống còn 41,31 triệu ha. Tiếp đến là Mỹ 32,68 triệu ha, chiếm 17,1% tổng diện tích ngô thế giới, đến năm 2019 diện tích 32,95 triệu ha và Braxin 15,41 triệu ha (2015), chiếm 8,1% tổng diện tích ngô thế giới, đến năm 2019 diện tích là 17,51 triệu ha. Về năng suất, Mỹ là quốc gia dẫn đầu về năng suất ngô, năm 2015 đạt 10,57 tan/ha/vu, cao hơn năng suất ngô trung bình của thế giới 5,07 tan/ha/vu, đến năm 2019 vẫn đạt 10,50 tân/ha/vụ; tiếp đến là Trung Quốc, năng suất ngô năm 2015 đạt 5,98 tan/ha/vu, cao hon năng suất trung bình của thé giới 0,39 tan/ha/vu, đến năm 2019 dat 6,32 tan/ha/vu và Brazin năm 2015 đạt 5,54 tắn/ha/vụ, đến năm 2019 đạt 5,77 tan/ha/vu (bảng 1. Tình hình sản xuất ngô ở một số nước dẫn đầu thế giới 2015 - 2019 Chỉ tiêu Nước 2015 2016 2017 2018 2019 Diện Thế giới 191,28 164.49 198,22 197,00 197,20 tich My 32,68 35,10 33,48 32,89 32,95 (riệu Trung Quốc 45,00 44,21 42,43 42,16 41,31 ha) Braxin 15,41 14,97 17,43 16,12 17,51 Thé gidi 5,50 5,74 5,74 5,71 5,82 Nang , Mỹ 10,57 11,74 11,08 11,07 10,50 suât „ , Trung Quôc 5,89 5,97 6,11 6,10 6,32 (tan/ha) : Braxin 5,54 4,29 5,62 5,11 5.17 San Thé giới 105261 112735 1.148,49 lượng Mỹ 345,49 412,26 371,10 364,26 347,05 (riệu Trung Quốc 265,16 263,78 259,26 257,35 260,96 tan) Braxin 85,28 64,19 97,91 82,37 101,14 Nguon: FAOSTAT, 2020 Sản lượng ngô của Mỹ cao nhất thế giới đạt 345,49 triệu tấn trong năm 2015, đến năm 2019 là 347,05 triệu tấn; tiếp đến là Trung Quốc 265,16 triệu tan năm 2015, đến năm 2019 là 260,96 triệu tấn và Braxin 85,28 triệu tấn trong năm 2015, đến năm 2019 là 101,14 triệu tan (Bảng 1.
Tình hình sản xuất ngô trong nước Bảng 1. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 1990 - 2020 ; Dién tich Nang suat hat San luong Nam (1.559,7 Nguôn: Tổng cục Thong kê, năm 1990 - 2020 Ở nước ta, ngô là cây lương thực, thực phẩm quan trọng, là cây nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, ngô còn là nguyên liệu sản xuất Ethanol - xăng sinh học E5 sạch với môi trường, cây năng lượng của thế kỷ 21. Vì vậy, ngô đã và đang được trồng ở hầu khắp các vùng sinh thái nông nghiệp của cả nước.