Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về cây Bạch tùng Bạch tùng, tên khoa học: Dacrycarpus imbricatus Blume. Thuộc họ Kim giao: PODOCARPACEAE. Bạch tùng là cây gỗ lớn cao 35 m, đường kính 50 – 70 cm.
Thân thẳng, tròn, cành nhiều, xòe rộng. Vỏ màu nâu đỏ, gồ ghề, có nhựa màu nâu nhạt, thịt vỏ màu da cam. Lá có 2 lọai: - Trên cành non và cây con, lá hình dài, xếp lông chim, dài 0,6 -1,2 cm, rộng 0,1 cm, hai bên có tuyến lỗ khí. - Trên cây già, cành già và cành mang quả, lá hình vẩy nhỏ, đầu nhọn, dài 0,2 đến 0,3 cm, xếp cách vòng.
Nón đực mọc ở nách lá, dài 1 cm. Nón cái màu đỏ, mọc lẻ hoặc từng đôi ở đầu cành, đế mập. Hạt hình trứng dài 0,5 – 0,6 cm, bông màu đỏ, trên đế nạc. cao tới 40m, đường kính đạt tới gần 200cm.
Võ màu xám nâu, nứt dọc, cành non màu vàng nhạt hoặc màu tro tán tròn. Lá ở cây non cành non hình mác hẹp đầu nhọn, ở cây già cành già hình giải đầu tù và lỏm ở đỉnh, dài 2,5 – 5 cm, rộng 0,3 – 0,4 cm, mặt dưới có 2 hàng khí khổng, khi mới mọc chỉ có 7 – 10 lá dạng vảy xếp xoắn ốc. Nón đực và cái đều mọc thẳng đứng đầu cành, quả nón chín sau một năm hình trụ dài 12 – 20cm khi chín màu hạt dẻ, ra nón tháng 3, 4 nón chín tháng 10. Vảy (lá noãn) quả hình trứng rộng mỏng mép cong ra ngoài.
hạt dài 0,6 cm có cánh màu vàng. Bạch tùng là một trong những loài cây có giá trị về kinh tế. Gỗ có màu vàng nhạt hay hơi nghệ, sáng màu, không có ống tiết, thớ thẳng mịn, mềm, gỗ nhẹ, tỷ trọng 0,46 – 0,57, dễ gia công nên rất được ưa chuộng để dùng làm đồ gia dụng trong gia đình, làm nhà, đóng hòm trang trí nội thất (bàn, ghế, giường, tủ…). Trong tự nhiên, Bạch tùng thường mọc Bạch tùng thường mọc rải rác trong rừng thường xanh, là loài cây ưa sáng, tái sinh hạt tốt.
Cây mọc rải rác trong rừng 4 thường xanh ở Quảng bình, Hà Tỉnh, Nghệ An, Ninh Bình, Hòa Bình, Tuyên Quang, Sơn La, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Lâm Đồng, Bình Thuận. Riêng ở Bình thuận, Bạch tùng phân bố ở độ cao từ 800 m trở lên tại một số nơi như Tánh Linh và Bắc Bình. Hiện nay, do khai thác và sử dụng không hợp lý, nên môi trường sống của Bạch tùng đang bị thu hẹp. Khái quát về khí hậu – thực vật Theo Douglass (1936, 1937)[18, 19], Bitvinskas (1974)[17] và Fritts, H.
C (1971)[20], khoa học về khí hậu thực vật (Dendroclimatology) là khoa học khôi phục lại khí hậu quá khứ bằng cách sử dụng các lớp vòng năm. Đây là một phân môn của khoa học về tuổi thọ của cây gỗ hay khoa học về niên đại của cây gỗ (Dendrochronology). Tiếp đầu ngữ Dendro xuất phát từ tiếng Hylạp, Dendron, có nghĩa là cây gỗ (Tree). Từ chronology là tên của một ngành khoa học nghiên cứu về thời gian và xác định niên đại cho các sự kiện đặc biệt.
Tuổi của cây gỗ có thể được xác định gần đúng nhờ những vòng năm ở phần dưới của gốc cây. Bằng cách so sánh vòng năm của những đoạn gỗ chưa biết tuổi với những vòng năm trên cây sống, chúng ta có thể tìm được năm mà đoạn gỗ này đã hình thành. Vì thế, các vòng năm có thể được sử dụng để xác định năm mà các sự kiện làm cho cây bị khuyết tật hoặc chết [2, 3, 10, 15, 17, 18, 19, 20, 21, 22, 24]. Theo Bitvinskas (1974)[17] và Fritts (1971)[23, 24], sở dĩ chúng ta có thể xác định chính xác thời gian mà những sự kiện (khí hậu, lửa, sâu hại…) đã ảnh hưởng đến cây gỗ là vì, tăng trưởng của cây gỗ được ấn định bởi khí hậu, địa hình-đất, lửa, sâu hại….
Những năm có khí hậu thuận lợi và không thuận lợi (năm ẩm và năm khô, năm nóng và năm lạnh) được các loài cây gỗ ghi lại đầy đủ bằng các vòng năm rộng và hẹp. Vì thế, những cây gỗ được xem như những “nhà biên niên sử” (Annalist or Chronicler). Thuật ngữ “Khoa học về niên đại thực vật (Dendrochronology)” chỉ việc sử dụng lớp vòng năm của cây gỗ để ghi lại các sự kiện. Tuy vậy, thuật ngữ “Khoa học về niên đại thực vật” cũng có thể được sử dụng cho những nghiên cứu về môi trường và khí hậu.
Khoa học về niên đại thực vật bao gồm một số phân môn khác 5 nhau như khí hậu thực vật (Dendroclimatology), lập bản đồ khí hậu thực vật (Dendroclimatography), sinh thái cây gỗ (Dendroecology), thủy văn thực vật (Dendrohydrology), địa chất thực vật (Dendrogeomorphology)…. Khí hậu thực vật (Dendroclimatology) biểu thị việc phân tích lớp vòng năm để nghiên cứu khí hậu quá khứ (Paleoclimate) và hiện tại. Lập bản đồ khí hậu thực vật (Dendroclimatography) biểu thị việc phân tích lớp vòng năm để lập bản đồ khí hậu quá khứ và hiện tại. Sinh thái cây gỗ (Dendroecology) biểu thị việc phân tích các lớp vòng năm để nghiên cứu các quần xã sinh học trong quá khứ.
Thủy văn thực vật (Dendrohydrology) biểu thị việc phân tích lớp vòng năm để nghiên cứu các dòng chảy của sông - hồ và lịch sử lũ lụt. Địa chất thực vật (Dendrogeomorphology) biểu thị việc phân tích lớp vòng năm để nghiên cứu các quá trình địa chất (Bitvinskas, 1974)[17]. Nguyên nhân là vì, bề rộng vòng năm được đo dễ dàng cho nhiều năm liên tục và chúng có thể được dùng để kiểm tra tài liệu khí hậu. Các vòng năm ghi lại chính xác các hiện tượng thời tiết của những năm mà chúng hình thành.
Số liệu vòng năm cũng có thể được sử dụng để truy tìm những biến động của khí hậu xuất hiện định kỳ (hay theo chu kỳ) theo một số năm nhất định. Ngoài ra, nó còn giúp chúng ta dự đoán những biến đổi của khí hậu trong tương lai. Lịch sử nghiên cứu khí hậu – thực vật Theo Bitvinksas (1974)[17], vòng năm của thân cây gỗ là nguồn cung cấp thông tin về điều kiện tự nhiên diễn ra trong thời gian hình thành nó. Bằng việc nghiên cứu vòng năm, các nhà khoa học có thể truy tìm trở lại lượng mưa, gió, tuyết, lửa rừng và các hoạt động của núi lửa cách đây hàng trăm năm.
Bitvinksas cũng nhận thấy rằng, khi xác định được tuổi vòng năm cây gỗ và tăng trưởng hàng năm của vòng năm trong mối liên hệ với các biến động của khí hậu, chúng ta có thể khôi phục và dự báo được các hiện tượng và quá trình tự nhiên khác. Kohler (1949)[22] và Kozlowski (1962)(Dẫn theo 15) cho rằng, các phương pháp sinh khí 6 hậu học (phương pháp dựa trên mối liên hệ giữa vòng năm với các nhân tố khí hậu) có thể được sử dụng rộng rãi để xác lập mối liên hệ giữa các hiện tượng xảy ra trên trái đất với hoạt động của mặt trời, khôi phục và dự báo biến động của các quá trình tự nhiên. Phương pháp sinh khí hậu học còn được sử dụng không chỉ trong các nghiên cứu về động thái nguồn nước, chế độ thủy văn, qui luật biến động của khí hậu và dự báo khí hậu, mà còn về sinh thái cá thể và quần thể cây rừng, dự báo năng suất và diễn thế rừng, dự báo sâu bệnh, đánh giá hiệu quả các biện pháp kỹ thuật lâm sinh và ảnh hưởng của con người tới rừng (Bitvinksas, 1974)[17]; Koerber, 1970)[21]. Nhiều nhà nghiên cứu (Bitvinksas, 1974[17]; Fritts, 1971[24]; Kozlowski, 1971[25]) cho rằng, hiện nay những nghiên cứu về khí hậu ngày càng được đẩy mạnh hơn.
Mục đích của những nghiên cứu này là nhằm xây dựng những dãy số biểu hiện sự biến động của vòng năm trong thời gian dài, xây dựng những thang chuẩn của biến động vòng năm đối với từng vùng địa lý riêng biệt. Kết quả của những nghiên cứu đó sẽ làm sáng tỏ những ảnh hưởng định lượng của các nhân tố sinh thái, đặc biệt là hoạt động của mặt trời, đến sinh trưởng và năng suất của rừng. Những nghiên cứu về sinh khí hậu còn được áp dụng để phân tích ảnh hưởng của các nhân tố khí hậu đến sinh trưởng của các loài cây gỗ. Khi sử dụng phương pháp sinh khí hậu để phân tích biến động của tăng trưởng và phân hóa cây rừng của các lâm phần thông Pinus sylvestris ở Varônhezơ (Russia), Vương Văn Quỳnh (1990)(Dẫn theo [15]) đã nhận thấy rằng, những cây thuộc cấp sinh trưởng khác nhau có phản ứng không giống nhau với các điều kiện khí hậu.
Ở những lâm phần non, tăng trưởng cây rừng phụ thuộc rõ rệt vào khí hậu. Hoạt động của mặt trời ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến tăng trưởng cây rừng. Sinh trưởng của những cây thuộc cấp sinh trưởng kém phụ thuộc rất ít vào hoạt động của mặt trời. Khi nghiên cứu tương quan giữa nhiệt độ và lượng mưa với biến thiên của chỉ số vòng năm của loài Pinus longaeva, Oberhuber (2002)(Dẫn theo [15]) nhận thấy bề rộng vòng năm nhỏ là do ảnh hưởng của nhiệt độ thấp.
Fritts (1972) đã phát hiện thấy sự sinh trưởng của loài Picea glauca dọc theo các con kênh đào và các dòng suối phụ thuộc 7 vào lượng mưa hàng năm. Vào những năm khô hạn, sự tăng trưởng của vòng năm kém hơn nhiều so với những năm có lượng mưa lớn. Nhiều nhà nghiên cứu đều khẳng định rằng, sinh trưởng của các loài cây gỗ có mối liên hệ rõ rệt với các nhân tố khí hậu. Khi nghiên cứu hai loài Abies lasiocarpa và Pseudotsuga menziesli, Fritt (1980) đã nhận thấy rằng sinh trưởng của chúng có mối liên hệ rõ rệt với nhiệt độ và lượng mưa.
Chỉ số tăng trưởng đường kính của loài Pseudotsuga menziesli có mối quan hệ tuyến tính dương với lượng mưa từ tháng 7 năm trước đến tháng 1, 2, 6 và tháng 7 năm sau. Ngược lại, chỉ số tăng trưởng đường kính của loài Abies lasiocarpa có quan hệ tuyến tính dương với lượng mưa của các tháng 11 và 12 năm trước và tháng 2, 3 và 6 năm sau. Lượng mưa lớn giúp cho loài Abies lasiocarpa tăng trưởng trong một thời gian dài từ tháng 11 đến tháng 2. Nghiên cứu của Fritt và Mayer cũng cho thấy chỉ số tăng trưởng của cả hai loài trên đều có tương quan dương với nhiệt độ tháng 8 (tháng cuối mùa tăng trưởng)(Dẫn theo [15]).