Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NHỰA ĐƯỜNG (BITUM) 1.1 Khái niệm và phân loại [1] 1.1 Khái niệm Bitum là hợp chất mà thành phần chủ yếu là hidro cácbon cao phân tử và một số hợp chất khác, có thể có dạng cứng hoặc quánh ở nhiệt độ thường, khi gia nhiệt trở nên lỏng, có khả năng trộn lẫn và dính kết các vật liệu khoáng, tạo thành vật liệu đá nhân tạo có những tính chất vật lý, cơ học phù hợp để dùng trong xây dựng đường ô tô.2 Phân loại Bitum dầu mỏ: là sản phẩm cuối cùng của dầu mỏ. Bitum thiên nhiên: là loại bitum thường gặp trong thiên nhiên ở dạng kết tinh hay lẫn với các loại đá, được khai thác từ hồ hoặc từ đá.2 Các tính chất của bitum [1] 1.1 Tính quánh Tính quánh là tính chất chống lại sự di chuyển của các hạt bitum dưới tác dụng của ngoại lực, là nơi ma sát sinh ra khi các tầng bitum di động. Tính quánh của bitum có một giá trị lớn. Nó ảnh hưởng nhiều đến các tính chất cơ học của hỗn hợp vật liệu khoáng với chất kết dính, đồng thời quyết định đặc trưng công nghệ chế tạo và thi công vật liệu có dùng bitum.
Độ quánh của bium phụ thuộc vào hàm lượng các nhóm hóa học và nhiệt độ môi trường. Khi hàm lượng chất nhựa tăng lên và hàm lượng chất dầu giảm thì độ quánh của bitum tăng lên. Khi nhiệt độ của môi trường tăng cao, chất nhựa sẽ bị chảy lỏng, độ quánh của bitum giảm xuống. Để đánh giá độ quánh của bitum người ta dùng chỉ tiêu độ cắm sâu vào bitum ở 250C của dụng cụ tiêu chuẩn (quán nhập kế), với trọng lượng kim Trang 15 100g, đường kính 1mm, cho rơi tự do trong 5 giây.
Độ kim lún được ký hiệu là P và đo bằng độ (1 độ bằng 0,1 mm). Độ kim lún càng nhỏ, tính quánh càng cao.2 Tính dẻo Tính dẻo đặc trưng cho khả năng biến dạng của bitum khi chịu tác dụng của ngoại lực. Cũng như tính quánh, nó phụ thuộc vào nhiệt độ và thành phần hóa học. Khi nhiệt độ tăng, tính dẻo cũng tăng.
Ngược lại khi nhiệt độ hạ, tính dẻo giảm, bitum trở nên dòn. Trong trường hợp đó, nếu như bitum dùng làm mặt đường hay các kết cấu khác có thể đưa đến sự tạo thành các vết nứt. Tính dẻo của bitum được đánh giá bằng độ kéo dài, ký hiệu L, đo bằng cm, của mẫu tiêu chuẩn và được xác định bằng dụng cụ máy kéo bitum. Nhiệt độ trong thời gian thí nghiệm là 250C, tốc độ kéo là 5cm/phút.
Độ kéo dài càng lớn, độ dẻo càng cao.3 Tính ổn định nhiệt Khi nhiệt độ thay đổi, tính quánh, tính dẻo của bitum thay đổi, sự thay đổi đó càng nhỏ thì bitum có tính ổn định nhiệt độ càng cao. Tính ổn định nhiệt của bitum phụ thuộc vào thành phần hóa học của nó. Khi hàm lượng nhóm asfalt tăng thì tính ổn định nhiệt của bitum tăng và ngược lại. Bước chuyển của bitum từ trạng thái rắn sang trạng thái quánh rồi hóa lỏng và ngược lại xảy ra trong khoảng nhiệt độ nhất định.
Do đó tính ổn định nhiệt của bitum có thể biểu thị bằng khoảng nhiệt độ đó. Khoảng biến đổi nhiệt độ ký hiệu là T được xác định bằng công thức: T = Tm - Tc Trong đó: Trang 16 Tm - nhiệt độ hóa mềm của bitum. Tc - nhiệt độ hóa cứng của bitum. Nếu T càng lớn thì tính ổn định nhiệt của bitum càng cao.
Trị số nhiệt độ hóa mềm của bitum ngoài việc dùng để xác định khoảng biến đổi nhiệt độ T nó còn có ý nghĩa thực tế quan trọng. Trong xây dựng đường người ta thường dùng bitum để rải mặt đường, do đó khi gặp nhiệt độ cao nếu Tm không thích hợp thì bitum có thể bị chảy làm cho mặt đường có dạng làn sóng, dồn đống. Vì vậy, nhiệt độ hóa mềm cũng là một chỉ tiêu kỹ thuật để đánh giá chất lượng của bitum. Nhiệt độ hóa mềm của bitum được xác định bằng dụng cụ “vòng và bi” (hình 1.
Khối lượng của viên bi bằng 3,5g, đường kính 9,53mm và vòng có kích thước như hình vẽ.1 : Dụng cụ vòng và hòn bi 1. Để xác định nhiệt độ hóa mềm người ta đun nóng bình chứa chất lỏng o (thường là nước) với tốc độ 5 C/phút. Dưới tác dụng của nhiệt độ tăng dần, đến một lúc nào đó bitum bị nóng chảy lỏng ra, viên bi cùng bitum rơi xuống. Trang 17 Nhiệt độ chất lỏng trong bình, ứng với lúc viên bi tiếp xúc với bản dưới của giá đỡ được xem là nhiệt độ hóa mềm của bitum.
Nhiệt độ hóa cứng của bitum có thể xác định bằng dụng cụ đo độ kim lún. Nhiệt độ hóa cứng là nhiệt độ ứng với độ kim lún bằng 1 độ.4 Tính hóa già Do ảnh hưởng của thời tiết mà tính chất và thành phần của bitum thay đổi nghĩa là làm cho bitum bị hóa già. Sự hóa già làm cho tính quánh, tính dòn của bitum tăng lên, làm xuất hiện các vết nứt trong lớp phủ mặt đường, tăng quá trình phá hoại do ăn mòn. Quá trình hoá già của lớp phủ mặt đường có thể chia làm hai giai đoạn.
Giai đoạn 1 cường độ và tính ổn định biến dạng tăng. Giai đoạn 2 bitum bắt đầu già, cấu trúc thay đổi, làm lớp phủ bị phá hoại. Tuy vậy sự hoá già của bitum phát triển chậm, thường sau 10 năm sử dụng sự hoá già mới ở mức độ cao. Tính hoá già có thể xác định ngay tại hiện trường hoặc bằng mẫu thử thí nghiệm trong các buồng khí hậu nhân tạo.5 Tính ổn định khi đun nóng o Khi dùng bitum người ta thường phải đun nóng lên đến nhiệt độ 160 C trong thời gian khá dài, do đó các thành phần nhẹ có thể bốc hơi, làm thay đổi tính chất của bitum.
Sau khi tiến hành thí nghiệm này các loại bitum dầu mỏ quánh phải có hao hụt trọng lượng không được lớn hơn 1%, độ kim lún và độ kéo dài thay đổi không được lớn hơn 40% so với trị số ban đầu.6 Nhiệt độ bốc cháy Khi đun bitum đến một nhiệt độ nhất định thì các chất dầu nhẹ bốc hơi hòa lẫn vào môi trường xung quanh tạo nên một hỗn hợp dễ cháy. Để xác Trang 18 định nhiệt độ bốc cháy, người ta dùng dụng cụ riêng (hình 1. Trong thí nghiệm, nếu ngọn lửa lan khắp mặt bitum thì nhiệt độ lúc đó được xem là o nhiệt độ bốc cháy. Nhiệt độ bốc cháy của bitum thường nhỏ hơn 200 C.
Nhiệt độ này là một chỉ tiêu quan trọng về an toàn khi gia công bitum.2: Dụng cụ xác định nhiệt độ bốc cháy 1.7 Tính bám dính Một trong những chức năng quan trọng nhất của bitum là hoạt động như một chất kết dính để liên kết các hạt cốt liệu với nhau. Bitum kết dính tốt đối với hầu hết các loại cốt liệu làm đường với điều kiện là các cốt liệu đó phải sạch, khô, không có bụi bám. Để bitum có thể bám dính tốt với từng hạt cốt liệu, và qua đó có thể liên kết mọi hạt cốt liệu với nhau, bitum cần phải làm ướt được từng hạt cốt liệu, tức là bao phủ hoàn toàn các hạt cốt liệu với độ dày thích hợp. Quá trình này bị chi phối phần lớn bởi độ nhớt của bitum.
Độ nhớt càng cao thì thời gian làm ướt cốt liệu bằng bitum càng lâu. Điều này càng đặc biệt quan trọng hơn nếu cốt liệu có nhiều bụi bám, vì lớp bụi trên cốt liệu sẽ được phủ bitum trước, nên nó làm tăng độ nhớt của bitum trên bề mặt cốt liệu và có thể làm cho bitum không thể phủ hết được bề mặt các hạt cốt liệu lớn. Một khi bitum đã kết dính tốt với toàn bộ cốt Trang 19 liệu, sự dính kết đó rất khó bị suy yếu trừ khi có sự can thiệp của nước. Tình trạng bitum bị tách khỏi cốt liệu thường liên quan đến việc hỗn hợp bitum-cốt liệu bị thấm nước.
Liên kết của bitum với vật liệu khoáng còn phụ thuộc vào tính chất của vật liệu khoáng. Các loại đá bazơ liên kết với bitum tốt hơn với các loại đá axit. Bản chất của cốt liệu khoáng, đặc biệt là bột khoáng, là yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng kết dính với cốt liệu của bitum. Thực tế khi chế tạo hỗn hợp bitum và vật liệu khoáng, người ta dùng nhiều loại đá khác nhau, do đó mức độ liên kết của nó cũng có thể khác nhau.3 Sự hóa cứng của bitum: - Bốn cơ chế chính của sự hóa cứng bitum đó là: oxy hóa, mất mát dó bay hơi, hóa cứng vật lý, hóa cứng do hao hụt thành phần dầu.
- Mức độ oxy hóa bitum phụ thuộc phần lớn vào nhiệt độ, thời gian và độ dày của lớp màng bitum bám dính trên bề mặt cốt liệu (hàm lượng bitum). Nói chung, hàm lượng bitum càng thấp thì lớp bitum phủ lên bề mặt cốt liệu càng mỏng và sự hóa cứng càng nhanh.4 Các yêu cầu kỹ thuật của bitum xây dựng đường [2] Bitum dầu mỏ loại quánh dùng trong xây dựng đường ở Việt Nam chia làm 6 mác, phân mác theo độ kim lún. Yêu cầu kỹ thuật của bitum quánh xây dựng đường được quy định trong bảng sau: Trang 20 Bảng 1.1: Bitum, yêu cầu kỹ thuật và phương pháp thử Theo TCVN 7493:2005 Trang 21 Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BÊ TÔNG NHỰA VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM 2.1 Khái niệm và phân loại 2.1Khái niệm: Bê tông nhựa là một hỗn hợp vật liệu khoáng và các chất kết dính hữu cơ gồm: đá dăm, cát, bột khoáng và bitum với tỷ lệ nhất định, được nhào trộn và gia công thành một hỗn hợp đồng nhất. Trong đó: Đá dăm và cát là bộ khung chịu lực, tăng tính ổn định của bê tông nhựa; Bột khoáng đóng vai trò lấp đầy lỗ rỗng tăng nhanh tỷ diện bề mặt các cốt liệu để đồng thời kết hợp với bitum hình thành “lưới” dính kết hỗn hợp với nhau và tăng khả năng chịu nhiệt cho bê tông nhựa; Bitum là chất kết dính hữu cơ có khả năng dính kết các vật liệu khoáng vật tạo một hỗn hợp chịu lực mới.2Phân loại [3] Mỗi nước có sự phân loại bê tông nhựa của mình.
Ở nước ta, TCVN 8819:2011 đã đơn giản hóa phân loại bê tông nhựa như sau: 1. Theo độ rỗng dư, bê tông nhựa được phân ra 2 loại: - Bê tông nhựa chặt (viết tắt là BTNC): có độ rỗng dư từ 3% đến 6%, dùng làm lớp mặt trên và lớp mặt dưới.