Chương 1: Tổng quan nghiên cứu. Trình bày các mục cơ bản của đề tài bao gồm LV thạc sĩ Kinh tế lý do thực hiện, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, giới thiệu sơ lược về phương pháp thu thập và phân tích số liệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Nội dung chương trình bày những khái niệm, lý thuyết chính liên quan đến PSM và kết quả công việc.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3 trình bày chi tiết về cách thức thực hiện nghiên cứu bao gồm các giả thuyết, xây dựng thang đo, bảng câu hỏi khảo sát, cách thức phân tích số liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu. Dựa vào mục tiêu nghiên cứu và số liệu khảo sát, chương 4 trình bày các kết quả về PSM và kết quả công việc của công chức Chương 5: Hàm ý quản trị.
Dựa trên kết quả phân tích trong chương 4, tác giả rút ra các hàm ý quản trị nhằm cải thiện PSM và kết quả làm việc của công chức. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Nội dung chính của chương là lược khảo, tổng hợp các khái niệm, lý thuyết liên quan đến động lực phụng sự công (PSM) và kết quả làm việc. Phần thứ nhất là các khái niệm và lý thuyết liên quan. Phần thứ 2 là lược khảo các nghiên cứu liên quan trong và ngoài nước về các nhân tố cấu trúc của PSM, mối quan hệ giữa PSM và kết quả công việc trong khu vực công.
Khái niệm động lực phụng sự công (Public Service Motivation – PSM) Từ năm 1982 có nhiều nghiên cứu khác nhau đã đưa ra nhiều định nghĩa, cách thức đo lường và hàm ý của PSM. Giả định có nhiều người mong muốn được làm việc, phục vụ cho các mục đích công là tâm điểm của lý thuyết động lực phụng sự công (Vandenabeele, 2011). LV thạc sĩ Kinh tế Perry và Wise (1990) định nghĩa, động lực phụng sự công là khuynh hướng một cá nhân đáp ứng lại các động cơ bắt nguồn chủ yếu hoặc duy nhất từ các cơ quan và tổ chức công. Hai tác giả này phân chia ba nhóm yếu tố động lực phổ biến của người lao động trong khu vực công bao gồm: Duy lý, chuẩn mực, và duy cảm.
Động lực duy lý (rational) là người lao động khi tham gia vào tổ chức công vì muốn tham gia vào các quy trình hình thành chính sách, chương trình có liên quan đến cá nhân của họ. Sở thích của cá nhân và nhu cầu phát triển xã hội phải được lưu ý đồng thời. Các động lực chuẩn mực (norm) được xem là quan trọng nhất và phổ biến nhất bao gồm: Khao khát được phục vụ các lợi ích cộng đồng, tinh thần trách nhiệm và lòng trung thành với đất nước, thích sự bình đẳng trong xã hội. Động lực duy cảm (affective) bao gồm sự dấn thân vào các chương trình xã hội, cộng đồng, chính sách dựa trên tầm vai trò quan trọng đối với toàn xã hội hay động cơ xuất phát từ tấm lòng nhân từ, bác ái.
Định nghĩa của tác giả này đưa ra một luận điểm mới khác với lý thuyết lựa chọn duy lý (Rational Choice Theory) giả định là các cá nhân sẽ hành động để tối đa hóa hữu dụng của mình; 5 ngược lại PSM dựa vào mong muốn để giúp đỡ người khác cải thiện các điều kiện sinh sống. Vandenabeele (2007) đã tổng hợp nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau để đưa ra một định nghĩa bao quát hơn như sau: động lực phụng sự công là niềm tin, giá trị và thái độ vượt xa hơn lợi ích cá nhân và lợi ích của tổ chức, mối quan tâm lợi ích của một thực thể chính trị lớn hơn và tạo động lực cho các cá nhân hành động vào bất cứ khi nào thích hợp. Tác giả đã xem xét lý thuyết thể chế và khái niệm đồng nhất (Identity) để phát triển lý thuyết PSM có thể dùng để giải thích cả nguyên nhân và hệ quả của PSM. Tác giả cũng đã đưa ra kết luận rằng khi thể chế có thể đáp ứng được nhiều hơn cho nhu cầu tâm lý của cá nhân về quan hệ, năng lực, và tự chủ thì dường như càng có nhiều cá nhân sẽ tự động nội hóa được các giá trị của dịch vụ công.
Theo nghiên cứu của Kim và Vandenabeele (2010) thì động lực phụng sự công được định nghĩa là một cấu trúc bốn chiều, với sự hy sinh như các khái niệm cơ bản và ba loại động cơ: Công cụ, giá trị và nhận dạng vật lý. Động lực phụng sự công phù hợp LV thạc sĩ Kinh tế với trí tuệ thông thường trong hành chính công rằng việc làm của chính phủ là một sự kêu gọi, động lực phụng sự công giả định quan chức được đặc trưng bởi một nền đạo đức để phục vụ công chúng. Họ hành động theo một cam kết cho lợi ích chung chứ không phải chỉ tự quan tâm. Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về động lực phụng sự công.
Tuy nhiên, động lực phụng sự công theo quan điểm nghiên cứu này là sự thu hút vào dịch vụ công, cam kết về các giá trị cộng đồng, tình thương người và sự hy sinh quên mình. Khái niệm kết quả công việc Kết quả thực hiện công việc là thuật ngữ rất phổ biến và thường được sử dụng nhất trong các lĩnh vực khoa học khác nhau, đặc biệt trong khoa học quản trị. Khái niệm kết quả công việc được định nghĩa là một chuỗi các hành vi mà các cá nhân biểu hiện trong công việc của họ. Nói cách khác thì đó là các sản phẩm, hệ quả, kết quả được tạo ra của các cá nhân được tuyển dụng vào các công việc của họ (Ghalich Lee và cộng sự 2013).
Cũng có thể hiểu thực hiện công việc là kiến thức và khả năng để thực hiện các nhiệm vụ cụ thể, mà điều này đòi hỏi mức độ am hiểu để sử dụng các công cụ, 6 kỹ thuật và năng lực thực tiễn trong hành vi và các hành động. Việc đánh giá kết quả thực hiện công việc của nhân viên là đánh giá tổng hợp công việc của họ về cách thức họ làm những việc được giao, và xác định tiềm năng của họ để phát triển và cải thiện. Joseph Wholey của Đại học Southern California và Kathryn Newcomer của Đại học George Washington nhận xét rằng " trọng tâm hiện nay về đo lường kết quả ở tất cả các cấp chính quyền và các tổ chức phi lợi nhuận phản ánh nhu cầu công dân đối với bằng chứng về hiệu quả của chương trình đã được thực hiện trên toàn thế giới". Wholey và Hatry cho rằng "các hệ thống giám sát kết quả bắt đầu được sử dụng trong việc xây dựng ngân sách và phân bổ nguồn lực, động lực lao động, ký kết hợp đồng thực hiện, cải thiện các dịch vụ của chính phủ và cải thiện thông tin liên lạc giữa công dân và chính phủ " Rất cần thiết thiết lập mục tiêu, kế hoạch hoạt động chương trình để thực hiện các mục tiêu, phân bổ nguồn lực cho các chương trình, giám sát và đánh giá kết quả để xác định xem họ có tiến bộ trong việc đạt được các mục tiêu, thành lập, và sửa đổi chương trình kế hoạch để nâng cao kết quả công việc "(Hatry et al.
LV thạc sĩ Kinh tế 2. PSM và kết quả thực hiện công việc Kết quả thực hiện công việc là thuật ngữ dùng để mô tả người lao động đã hoàn thành công việc, nhiệm vụ được giao tốt như thế. Kết quả thực hiện công việc là điều quan trọng đối với cả người lao động và người chủ vì nó chắc chắn ảnh hưởng đến các quyết định thăng tiến, chấm dứt công việc, hoặc khen thưởng. Campbell (1990) phân chia 8 khía cạnh của việc thực hiện công việc (1) Sự thuần thục trong khi thực hiện nhiệm vụ cụ thể; (2) Thuần thục trong các nhiệm vụ khác không liên quan đến công việc; (3) Kỹ năng viết và thông tin (4) Nhhững nổ lực để chứng tỏ bản thân; (5) Gìn giữ tư cách cá nhân; (6) Thúc đẩy, tạo điều kiện để giám 7 sát và thực hiện công việc theo nhóm; (7) Tư vấn hỗ trợ (8) Quản lý hành chính và quản trị công việc.
Một trong những cơ sở của các nghiên cứu về PSM là PSM có thể hỗ trợ cải thiện việc thực hiện công việc của các tổ chức công (Perry và Wise 1990). Do vậy, nghiên cứu PSM có thể ảnh hưởng mạnh như thế nào đến kết quả thực hiện công việc là một điều quan trọng. Lý thuyết về PSM đã giả định là có mối quan hệ giữa PSM và kết quả thực hiện công việc trong các tổ chức công bởi vì làm những việc có thể phục vụ cho cộng đồng sẽ đòi hỏi động lực phục vụ công của người đó, làm cho người đó làm việc chăm chỉ hơn và tốt hơn là những người khác không có động lực phục vụ công. Vì thế có mối quan hệ trực tiếp giữa PSM và thực hiện công việc của cá nhân.
Kết quả nghiên cứu của Alonso và Lewis (2001) cho thấy PSM ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc. Kết quả tương tự như vậy cũng đã được Ritz (2009) khẳng định, và cũng kết luận rằng 2 khái niệm này là cấu trúc đa chiều cần được nghiên cứu để hiểu rỏ mối quan hệ phức tạp này. LV thạc sĩ Kinh tế PSC đã cho thấy có ảnh hưởng đến hành vi làm việc của công chức bằng nhiều cách khác nhau như hài lòng với công việc, gắn bó với tổ chức, giảm ý định bỏ việc, làm việc chăm chỉ hơn (Vandenabeele 2009; Steijn 2008; Wright (2004). Tuy nhiên, một số các tác giả khác đã cho thấy những kết quả hỗn hợp hoặc kết quả làm phức tạp hơn về quan hệ giữa PSM và kết quả thực hiện công việc.
Kết quả cho thấy rằng PSM và kết quả thực hiện công việc không chỉ là những khái niệm đa chiều, mà còn giả định rằng các công chức có thể luôn sử dụng động lực của mình để thực hiện tốt công việc mà không tìm thấy được những cơ sở thực tiễn trong cuộc sống của họ (Bright và Leonard, 2007). Đo lường động lực làm việc Từ khái niệm, định nghĩa về PSC, nghiên cứu của Perry (1996) đã đưa ra một bước tiến đáng kể trong việc xây dựng thang đo PSC. Perry xác định 6 chiều (khía cạnh, nhân tố) của PSM, và sau đó đã thiết kế các quan sát (items) dạng thang đo Likert.