Chương 1 Giới thiệu, Chương 2 Tổng quan lý thuyết và các nghiên cứu trước đây, Chương 3 Thực trạng đầu tư tại một số quốc gia đang phát triển khu vực Châu Á, Chương 4 Phương pháp nghiên cứu, Chương 5 Kết quả nghiên cứu và Chương 6 Kết luận. Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân luôn là một trong những đề tài nghiên cứu được quan tâm trong lĩnh vực kinh tế nói chung và tài chính công nói riêng. Các lý thuyết cũng như các nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này thông qua nhiều cách tiếp cận là vô cùng đa dạng; do đó trước khi đi vào chi tiết nghiên cứu, bài nghiên cứu tiến hành tóm tắt sơ lược một số lý thuyết và các nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của đầu tư công nói riêng và các nhân tố khác nói chung đến đầu tư tư nhân. 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.
Tổng quan lý thuyết: 2. Khái niệm: Đầu tư công là cụm từ được nhắc đến rất nhiều trong các nghiên cứu, phát biểu trong lĩnh vực tài chính công. Tuy nhiên khái niệm về đầu tư công lại có rất nhiều quan điểm khác nhau, trong đó có hai trường phái chính bao gồm: “Quan điểm thứ nhất cho rằng, đầu tư công là toàn bộ nội dung liên quan đến đầu tư sử dụng vốn nhà nước, bao gồm hoạt động đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư sử dụng vốn nhà nước không nhằm mục đích thu lợi nhuận vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội (gọi tắt là nhóm 1); các hoạt động đầu tư, kinh doanh LV thạc sĩ Kinh tế sử dụng vốn nhà nước, đặc biệt là quản lý các hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước (gọi tắt là nhóm 2). Quan điểm thứ hai khẳng định, đầu tư công chỉ bao gồm các hoạt động đầu tư bằng vốn nhà nước cho các dự án, chương trình không vì mục tiêu thu lợi nhuận, tức là giới hạn trong phạm vi các hoạt động đầu tư thuộc nhóm 1.
Việc tồn tại hai quan điểm trên là do sự khác nhau tùy theo góc nhìn của từng đối tượng. Chẳng hạn, nếu xét theo nguồn vốn đầu tư thì bất kỳ khoản đầu tư nào, đầu tư vào đâu với mục đích gì đều là đầu tư công nếu nguồn vốn đầu tư là của nhà nước, tức là của chung, không của riêng cá nhân hoặc pháp nhân nào. Tuy nhiên nếu xét theo mục đích đầu tư thì đầu tư công lại được hiểu là chỉ bao gồm đầu tư vào những chương trình, dự án phục vụ cộng đồng, không vì mục đích thu lợi nhuận. Dù cách hiểu khác nhau, song điểm chung nhất là hoạt động đầu tư công có sự tham gia của nguồn vốn nhà nước (từ ngân sách nhà nước, do nhà nước vay, nhà 7 nước bảo lãnh khoản vay.
Sau đây là một số những định nghĩa chính thống về đầu tư công, mặc dù có khác nhau về cách diễn đạt nhưng nhìn chung đều xoay quanh hai quan điểm nêu trên. Theo giáo trình Kinh tế đầu tư, Đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước (bao gồm cả vốn ngân sách nhà nước, vốn tín dụng nhà nước và vốn của các doanh nghiệp nhà nước) để đầu tư vào các chương trình, dự án không vì mục tiêu lợi nhuận và (hoặc) không có khả năng hoàn vốn trực tiếp. Theo Điều 4 Luật đầu tư công: Đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà nước vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội. Nguồn vốn đầu tư công: Nguồn vốn đầu tư công bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước: nguồn thu từ các khoản thuế, phí, lệ phí… LV thạc sĩ Kinh tế Nguồn vốn tín dụng nhà nước: nhà nước vay vốn từ người dân trong nước hoặc thị trường tín dụng quốc tế.
Nguồn vốn của các doanh nghiệp nhà nước. Khái niệm: Đầu tư tư nhân là hình thức cá nhân hay một doanh nghiệp sở hữu tư nhân sử dụng phối hợp các nguồn lực trong một khoảng thời gian nhất định nhằm thu được lợi ích về kinh tế. Đầu tư tư nhân là hàng hóa cuối cùng mà các công ty kinh doanh giữ lại và thêm vào tài sản tạo ra thu nhập của quốc gia. Thứ nhất là đầu tư hàng tồn kho bao gồm tất cả các thay đổi trong kho nguyên vật liệu, phụ tùng, hàng thành phẩm kinh doanh; và thứ hai là đầu tư cố định, bao gồm tất cả các mặt hàng cuối cùng được mua bởi doanh nghiệp mà không nhằm bán lại (Mlambo và Oshikoya, 2001).
Nguồn vốn đầu tư tư nhân: Các nguồn vốn của đầu tư tư nhân bao gồm: Vốn chủ sở hữu: gồm vốn tự có (vốn điều lệ ban đầu của doanh nghiệp) và lợi nhuận giữ lại trong quá trình sản xuất kinh doanh. Vốn vay: có hai cách để tiếp cận nguồn vốn này - Vay ngân hàng: là hình thức mà các doanh nghiệp thường sử dụng khi thiếu vốn, thông qua việc thỏa thuận với các ngân hàng về hạn mức vay tương ứng với các điều kiện ngân hàng đưa ra mà doanh nghiệp có thể đáp ứng. - Vay từ đại chúng: qua phát hành chứng khoán. Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân: Từ quan điểm lý thuyết, tác động của đầu tư công lên đầu tư tư nhân có thể diễn ra theo hai hướng: một là hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect), hai là hiệu LV thạc sĩ Kinh tế ứng chèn lấn hay hiệu ứng lấn át (crowding-out effect).
Hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect) xảy ra khi đầu tư công có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc thúc đẩy đầu tư tư nhân. Trường phái tân cổ điển cho rằng đầu tư công vào cơ sở hạ tầng, cải thiện chất lượng và nâng cao nguồn nhân lực có thể cải thiện môi trường đầu tư, làm tăng năng suất cho khu vực tư nhân. Ví dụ đầu tư công vào các lĩnh vực năng lượng, viễn thông và các ngành công nghiệp khác có thể thúc đẩy các hoạt động đầu tư tư nhân (theo Pereira và Andraz, 2013) Trái ngược với hiệu ứng thúc đẩy, hiệu ứng lấn át (crowding-out effect) cũng có khả năng xảy ra khi mà đầu tư công gây cản trở hay lấn át đầu tư tư nhân. Nếu khu vực công và khu vực tư nhân cạnh tranh với nhau thì chi phí cho đầu tư tư nhân có thể tăng lên.
Hay việc tăng đầu tư công được tài trợ có thể hàm ý rằng gánh nặng thuế hoặc nhu cầu về vốn của chính phủ sẽ tăng cao dẫn đến làm tăng lãi suất, gây khó khăn cho hoạt động đầu tư của khu vực tư nhân. Hiệu ứng lấn át cũng có thể xảy ra trong thời kỳ chính phủ luôn dành những ưu đãi trong các dự án hay ngành nghề mà tư nhân có khả năng tham gia cho các doanh nghiệp nhà nước, dẫn đến khu 9 vực tư nhân không thể tham gia hay không có năng lực cạnh tranh. Tất cả những điều này đều khiến cho hoạt động đầu tư tư nhân bị hạn chế hay bị lấn át do các hoạt động đầu tư công. Mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân còn có thể giải thích dựa theo sự cân bằng dài hạn giữa vốn tư nhân và vốn công.
Xét hàm sản xuất Cobb- Douglas: 𝜷 𝜸 𝒀𝒕 = 𝑨𝒕 𝑳𝜶𝒕 𝑲𝒕 𝑮𝒕 (2.1) Trong đó: Y là sản lượng đầu ra; A là tiến bộ khoa học kỹ thuật; L là tổng lao động; K là vốn tư nhân; G là vốn công; t là thời gian. Các tham số 𝛼, 𝛽, 𝛾 là các tham số thể hiện độ co dãn theo hàm sản xuất. Trong khi đó 𝛾𝑌/𝐺 là sản lượng đầu ra biên của vốn đầu tư công và 𝛽𝑌/𝐾 là sản lượng đầu ra biên của vốn đầu tư tư nhân. Trong thị trường vốn hoàn hảo, sản lượng biên bằng với lãi suất thực trong khu vực tư LV thạc sĩ Kinh tế nhân (đặt là rp) và lãi suất thực khu vực công (rg).2) 𝑲𝒕 𝑮𝒕 Do lãi suất của hai khu vực có sự chênh lệch nên chúng sẽ biến động song song, mặc dù có sự chênh lệch do chi phí bù đắp rủi ro (theo Hatano, 2010).
Giả sử mức chênh lệch giữa lãi suất thực của hai khu vực công và khu vực tư duy trì một tỷ lệ cố định, 𝑟𝑝 = 𝜆𝑟𝑔 ta có: 𝜷 𝑲𝒕 = 𝑮 (2.3) 𝝀𝜸 𝒕 Phương trình (2.3) cho thấy mối quan hệ dài hạn (hay tồn tại đồng liên kết) giữa vốn đầu tư công và vốn đầu tư tư nhân. Nếu sản lượng biên của hai khu vực bằng nhau thì tham số đồng liên kết sẽ phản ánh tỷ lệ độ co dãn của hàm sản xuất. Tuy nhiên nếu đầu tư công là biến ngoại sinh do nó thường được quyết định bởi ngân sách của chính phủ thì đầu tư tư nhân sẽ phản ứng với sự chênh lệch trong 10 khối lượng vốn giữa hai khu vực trong dài hạn. Chính vì vậy mà sự cân bằng dài hạn giữa khối lượng vốn hai khu vực có khả năng giải thích dòng đầu tư tư nhân, ngoài các yếu tố như hoạt động của nền kinh tế và chi phí sử dụng vốn.
Bên cạnh những lập luận về mặt lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân cũng là một chủ đề được rất nhiều các nhà nghiên cứu kinh tế và các nhà hoạch định chính sách của các quốc gia quan tâm. Sau đây là một số tóm tắt về các nghiên cứu thực nghiệm của chủ đề này. Các nghiên cứu trước đây: 2. Các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân: Về mặt lý thuyết, ảnh hưởng của đầu tư công lên đầu tư tư nhân xoay quanh hai lập luận về hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect) và hiệu ứng lấn át (crowding- out effect).
Trong nhiều năm qua, những nghiên cứu thực nghiệm liên quan đến hai LV thạc sĩ Kinh tế hiệu ứng này trong mối quan hệ giữa đầu tư công và đầu tư tư nhân đã được nhiều nhà nghiên cứu kinh tế thực hiện bằng nhiều phương pháp và mẫu dữ liệu khác nhau, các kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy nhiều bằng chứng ủng hộ sự tồn tại của cả hai hiệu ứng trên.1 Các bằng chứng thực nghiệm về hiệu ứng thúc đẩy (crowding-in effect) Aschauer (1989) đã thực hiện bài nghiên cứu “Does Public capital crowd out Private capital?