Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu ngô, lúa gạo của Việt Nam và Thế giới hiện nay 1. Tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu lúa gạo của Thế giới và Việt Nam hiện nay 1.
Trên Thế giới Tổ chức Nông Lương Liên Hiệp Quốc (FAO) có cơ sở để nhận định sản lượng lúa thế giới năm 2016 đạt 748 triệu tấn (496,7 triệu tấn gạo), giảm 1,8 triệu tấn so với báo cáo công bố vào tháng 10. Mặc dù được điều chỉnh giảm, con số dự báo 748 triệu tấn vẫn là mức cao kỷ lục, tăng 8,1 triệu tấn (1,1%) so với năm 2015. Châu Á dẫn đầu về sản lượng tăng trong năm 2016, với kỷ lục 676,5 triệu tấn, tăng 7,3 triệu tấn so với năm 2015. Nhiều nước đã có đủ mưa đem lại sự thuận lợi cho việc gieo trồng ở khu vực châu Á nằm trên bán cầu nam.
Ngoại trừ một số nơi vẫn gặp khó khăn trong sản xuất, như Trung Quốc lục địa, các nước còn lại như Philippines, Thái Lan và nhất là Ấn Độ sản lượng đã hồi phục khi kết thúc hạn hán. Campuchia, Đài Loan (Trung Quốc), CH Hồi giáo Iran, Iraq, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên, CHDCND Lào, Myanmar, Nepal và Pakistan cũng tăng sản lượng trong năm nay, thừa sức bù đắp cho sự sụt giảm ở Trung Quốc lục địa, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Sri Lanka và Việt Nam. Điều kiện gieo trồng ở hầu khắp châu Phi cũng thuận lợi nên sản lượng năm 2016 ước tính tăng 5% lên kỷ lục cao 30,2 triệu tấn. Ở khu vực này, Guinea, Mali, Nigeria và Tanzania đều bội thu.
Sản lượng tăng ở những nước này bù lại cho sự sụt giảm ở Bờ Biển Ngà, Malawi, Mauritania, Mozambique và Zambia (chủ yếu do thiếu mưa). Sản lượng ở Mỹ Latinh và Caribê ước tính giảm xuống mức thấp nhất 6 năm là 26,1 triệu tấn chủ yếu do mất mùa ở Argentina, Bolivia, Brazil, Ecuador, Guyana, Paraguay, Uruguay và Venezuela bởi thời tiết xấu và triển vọng lợi nhuận từ cây lúa giảm. Khu vực này gặp khô hạn đầu năm, tiếp đến là mưa bão trên toàn khu vực Trung Mỹ và Caribê. Ở Bắc Mỹ, lũ lụt hồi tháng 8 khiến sản xuất bị gián đoạn.
Sản lượng tại Mỹ đã hồi phục sau đó lên mức cao thứ 2 trong lịch sử khi lợi nhuận của một số cây trồng khác giảm khiến nông dân gia tăng trồng lúa. Sản lượng ở Italia, liên bang Nga tăng sẽ góp phần làm tăng nhẹ sản lượng của châu Âu, trong khi sản lượng của Australia giảm do thiếu nước (FAO, 2017 [12]). n 4 Lượng gạo nhập khẩu trong năm 2016 trên toàn cầu sẽ giảm xuống. Tổng lượng gạo được các quốc gia khu vực Châu Á nhập khẩu trong năm 2016 sẽ chỉ đạt 20,9 triệu tấn, giảm 10 % so với năm 2015.
Đối với Trung Quốc, lượng gạo nhập khẩu của nước này trong năm 2016 đạt 6,3 triệu tấn, giảm 5% so với năm 2015 trong bối cảnh nước này thắt chặt việc nhập khẩu gạo tại khu vực biên giới với Myanmar. Đối với Philippines, lượng gạo được Philippines nhập khẩu trong năm 2017 sẽ đạt 1,3 triệu tấn, giảm 4% so với mức dự kiến trong năm 2016. Đáng chú ý, lượng gạo nhập khẩu của Bangladesh giảm mạnh từ mức 1,1 triệu tấn trong năm 2015 xuống còn 150. Lượng gạo nhập khẩu bởi các quốc gia Châu Phi trong năm 2016 lên mức 13,9 triệu tấn, tăng 2% so với các dự báo trước đây.
Nguyên nhân chủ yếu do các quốc gia Tây Phi gia tăng nhập khẩu gạo. Tổng lượng gạo được khu vực Tây Phi nhập khẩu trong năm 2016 đạt 8,3 triệu tấn, tăng 150.000 tấn so với năm 2015. Trong đó, lượng gạo nhập khẩu của Bờ Biển Ngà và Senegal trong năm 2016 sẽ đạt lần lượt là 1,4 triệu tấn và 1,2 triệu tấn. Nhu cầu về các loại gạo thơm tăng cao tại Ghana khiến lượng gạo nhập khẩu của nước này trong năm 2016 lên mức 620.000 tấn so với năm 2015.
Trong khi đó, lượng gạo nhập khẩu của Sierra Leone trong năm 2016 sẽ giảm xuống mức thấp nhất kể từ năm 2010, đạt 250. Diện tích và sản lượng lúa gạo thế giới 2016 Nhập khẩu gạo theo khu vực 2016 - 2017 (Nguồn: FAO, 2017 [12]) Về phía xuất khẩu, hầu hết phục hồi xuất khẩu gạo toàn cầu năm 2017 là nhờ xuất khẩu từ Ấn Độ duy trì ổn định. Xuất khẩu gạo của Ấn Độ năm 2017 được dự báo tăng 7% so với năm 2016, lên 10,8 triệu tấn. FAO dự báo xuất khẩu gạo của Việt Nam n 5 năm 2017 sẽ đạt 7,1 triệu tấn, tăng 10% so với kim ngạch 6,5 triệu tấn trong năm 2016.
Nhờ nguồn cung gạo non-basmati có giá cạnh tranh, xuất khẩu gạo của Pakistan được dự báo tăng 2% so với năm 2016 lên 4,4 triệu tấn. Xuất khẩu gạo của Mỹ được dự báo tăng 3% lên 3,55 triệu tấn trong năm 2017 nhờ sản lượng nội địa. Xuất khẩu gạo của Ai Cập được dự báo đạt 400.000 tấn trong năm 2017 do các lệnh hạn chế xuất khẩu; trong khi sản xuất tăng giúp xuất khẩu gạo của Úc tăng lên mức 350. Triển vọng xuất khẩu gạo của Thái Lan cũng tích cực khi FAO điều chỉnh tăng dự báo xuất khẩu gạo của nước này thêm 200.000 tấn so với báo cáo hồi tháng 10, lên 9,6 triệu tấn trong năm 2017.
FAO dự báo xuất khẩu gạo của Campuchia sẽ giảm 4% xuống còn 1,2 tấn. FAO dự báo xuất khẩu của Myanmar năm 2017 sẽ đạt 1,1 triệu tấn, giảm so với mức 1,2 triệu tấn trong năm 2016 (FAO, 2017 [12]). Việt Nam Sản xuất lương thực là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nông nghiệp Việt Nam. Trong các giống cây lương thực được gieo trồng, sản xuất hàng năm, lúa là cây lương thực được chú trọng nhất.
Vì là loại lương thực chủ lực, xuất hiện trong bữa ăn hàng ngày nên chiếm diện tích gieo trồng và sản lượng lớn nhất. Do mùa mưa năm 2015 đến muộn và kết thúc sớm nên hiện tượng xâm nhập mặn đã xuất hiện sớm hơn so với mọi năm gần 2 tháng, gây ảnh hưởng đến sản xuất của vùng Đồng bằng sông Cửu Long nói chung và của cả nước nói riêng. Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nộng thôn, diện tích xuống giống cả năm 2016 là 7,789 triệu ha (giảm 38.000 ha so với năm 2015), sản lượng ước đạt 43,727 triệu tấn lúa (giảm 1,480 triệu tấn lúa so với năm 2015). Cụ thể: Vụ Đông Xuân sản lượng đạt 19,409 triệu tấn lúa, giảm 1,588 triệu tấn so với năm 2015; Vụ Hè Thu, sản lượng đạt 11,590 triệu tấn lúa, giảm 0,67 triệu tấn so với năm 2015; Vụ Mùa sản lượng đạt 8,435 triệu tấn lúa, tăng 0,41 triệu tấn so với năm 2015; Vụ Thu Đông ( chỉ sản xuất tại các tỉnh Đồng bằng Sông Cửu Long), sản lượng đạt 4,294 triệu tấn lúa, giảm 0,166 triệu tấn so với năm 2015 ( Bộ Công thương, 2017 [3]).
Năm 2016 xuất khẩu gạo bị sụt giảm, chỉ đạt mức gần 4,9 triệu tấn, trị giá đạt gần 2,2, tỷ USD, giảm tới gần 26,5 % về số lượng và giảm 22,4 % về trị giá so với năm 2015. Năm 2016, giá gạo xuất khẩu của Việt Nam có nhiều biến động. Giá chào n 6 xuất khẩu gạo 5% đạt mức cao nhất khoảng 385 USD/ tấn, mức thấp nhất khoảng 345 USD/tấn. So với giá gạo các nước trong khu vực, giá gạo xuất khẩu Việt Nam thấp hơn của Thái Lan khoảng 5-10 USD/tấn nhưng cao hơn giá gạo Ấn Độ, Pakistan khoảng 5 USD/tấn (cùng chủng loại gạo).
Thị trường khu vực châu Á (trừ Trung Đông) chiếm 65,3% tổng lượng gạo xuất khẩu, kim ngạch giảm 34,7% so với năm 2015; châu Phi chiếm 16,8%, kim ngạch giảm 9%, châu Mỹ chiếm 9,66%, kim ngạch tăng 7,1%, châu Đại Dương chiếm 4,5%, kim ngạch tăng 50%, châu Âu chiếm 1,7%, kim ngạch giảm 25,6%, thị trường Trung Đông chiếm gần 2% (tăng 36%) so với năm 2015. Xuất khẩu gạo sụt giảm đáng kể tại các thị trường truyền thống trọng điểm (thị trường Trung Quốc giảm 8,6%, Philippines giảm 64,1%, Malaysia giảm 45,5%, Indonesia giảm 51,8%, Bờ biển Ngà giảm 21,1%). Tuy nhiên, sụt giảm là bức tranh chung của thương mại gạo thế giới trong năm 2016, không riêng gì Việt Nam. Năm 2016, các nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới đều bị sụt giảm kim ngạch xuất khẩu gạo như Thái Lan giảm 1,73% (đạt 9,63 triệu tấn), Ấn Độ giảm 6,76% (đạt 10,20 triệu tấn) so với năm 2015.
Riêng Pakistan đạt 4,2 triệu tấn (tăng 6,06%), Campuchia đạt 0,54 triệu tấn, tăng 0,7% so với năm 2015, song cũng không đạt kế hoạch đề ra ( Bộ Công thương, 2017 [3]). Xuất khẩu gạo của 5 nước xuất khẩu Xuất khẩu các loại gạo của Việt Nam 2016 gạo lớn nhất 2016 - 2017 (Nguồn: FAO, 2016 [11]) Năm 2017, do nhu cầu nhập khẩu gạo của thế giới đang tăng trở lại, Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA) đã quyết định tăng mục tiêu xuất khẩu gạo năm 2017 lên hơn 5,7 triệu tấn, tăng khoảng 800.000 tấn so với năm 2016. n 7 Xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2017 đạt 2,8 triệu tấn với giá xuất khẩu 445,5 USD/tấn thu về 1,2 tỷ USD (VFA, 2017 [36]). Xuất khẩu gạo sụt giảm do nguồn cung gạo thế giới dư thừa, áp lực kế hoạch giải phóng hàng tồn kho của Thái Lan đã tạo tâm lý cho thị trường thương mại gạo thế giới.
Ngoài ra, các thị trường trọng điểm của Việt Nam tiếp tục tăng cường chính sách tự cung cấp lương thực, giảm nhập khẩu. Tình hình sản xuất, xuất nhập khẩu ngô của Thế giới và Việt Nam hiện nay 1. Ở Việt Nam Việt Nam đứng thứ 24 thế giới về sản xuất ngô. Theo Trung tâm Tin học thống kê (Bộ NN&PTNT), năm 2016, diện tích ngô của Việt Nam đạt hơn 1,15 triệu ha (chiếm 0,65% diện tích ngô toàn thế giới; 1,94% diện tích ngô châu Á; 11,6% diện tích ngô khu vực Đông Nam Á), và Việt Nam đứng thứ 24/166 nước trồng ngô trên thế giới, năng suất ngô trung bình 45,5 tạ/ha, sản lượng đạt 5,244 triệu tấn.
Sản lượng ngô của Việt Nam trong năm 2016 Năm Đơn vị 2016 Diện tích Triệu ha 1,152 Năng suất Tạ/ha 45,5 Sản lượng Triệu tấn 5,244 (Nguồn: Bộ NN & PTNT, 2016 [4]) Theo Bộ NN&PTNT, 7 tháng đầu năm 2017, nhập khẩu ngô đạt 4,13 triệu tấn, giá trị 825 triệu USD, tăng 9% về khối lượng và tăng hơn 11% về giá trị so với cùng kỳ năm 2016. Argentina và Brazil là hai thị trường nhập khẩu ngô chính trong nửa đầu năm, chiếm lần lượt là 49,5% và hơn 15% tổng giá trị nhập khẩu.