Tổng quan nghiên cứu

Công trình thủy điện Suối Sập I có công suất thiết kế 19,5 MW với sản lượng điện bình quân đạt 63,89 triệu kWh/năm, chính thức hòa lưới điện quốc gia từ tháng 12/2011. Công trình được xây dựng trên dòng suối Sập thuộc địa bàn giáp ranh giữa xã Tà Xùa (huyện Bắc Yên) và xã Suối Tọ (huyện Phù Yên), tỉnh Sơn La. Lưu vực tính đến tuyến đập có diện tích 225 km² với địa hình núi cao hiểm trở, đóng vai trò xung yếu trong việc cung cấp nguồn nước sản xuất và sinh hoạt cho người dân vùng cao Tây Bắc.

Việc vận hành hồ chứa theo phương thức điều tiết ngày đêm với dung tích toàn bộ 9,86 triệu m³ và lưu lượng phát điện lớn nhất 22,47 m³/s đã tạo ra những biến đổi căn bản đối với chế độ thủy văn hạ lưu. Sự thay đổi dòng chảy tự nhiên tiềm ẩn nguy cơ cạn kiệt cục bộ tại đoạn suối dài 1,3 km sau đập trong mùa kiệt, đồng thời gây xói lở cục bộ và làm biến động chất lượng nước mặt. Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là đánh giá định lượng mức độ ảnh hưởng của nhà máy đến lưu lượng dòng chảy và các thông số hóa lý môi trường nước, khảo sát hiện trạng khai thác nguồn nước hạ du tại 2 xã Tà Xùa và Suối Tọ, từ đó xác lập dòng chảy tối thiểu 1,0 m³/s và đề xuất các giải pháp kỹ thuật vận hành bền vững.

Nghiên cứu được triển khai chuyên sâu từ tháng 01/2018 đến tháng 09/2018, kế thừa chuỗi số liệu thủy văn liên tục 54 năm (1961 - 2014). Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc cung cấp cơ sở khoa học để cân bằng giữa mục tiêu khai thác thủy năng 19,5 MW và bảo đảm an ninh nguồn nước sinh hoạt cho hơn 822 hộ dân cùng 76 ha đất lúa nước tại vùng hạ lưu.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết cân bằng nước lưu vực sông và quy luật hình thành dòng chảy mặt vùng núi cao. Cấu trúc thủy văn lưu vực suối Sập được phân tích qua mối quan hệ tương tác giữa lượng mưa bình quân, khả năng bốc hơi lưu vực và lớp dòng chảy năm. Đồng thời, mô hình dòng chảy Tank của Sugawara được áp dụng nhằm mô phỏng dòng chảy ngầm và dòng chảy mặt qua các tầng bồn chứa giả định, giải quyết bài toán thủy văn cho lưu vực vừa và nhỏ.

Bên cạnh đó, nghiên cứu vận dụng lý thuyết dòng chảy môi trường nhằm xác định ngưỡng dòng chảy tối thiểu sau đập để duy trì hệ sinh thái thủy sinh và đáp ứng nhu cầu sử dụng nước hạ du. Các khái niệm cốt lõi được chuẩn hóa bao gồm: đặc trưng hình thái lưu vực (diện tích 225 km², độ dốc lưu vực 38,8‰, mật độ lưới sông 1,05 km/km²), chế độ điều tiết nhật triều của hồ chứa thủy điện, quá trình lắng đọng tổng chất rắn lơ lửng (TSS) và cơ chế khuếch tán oxy hòa tan (DO) theo Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước mặt QCVN 08-MT:2015/BTNMT (Cột A2).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm chuỗi số liệu thủy văn thực đo giai đoạn 1961 - 2014 tại trạm tương tự Phiềng Hiềng và số liệu khí tượng từ các trạm Quỳnh Nhai, Phù Yên, Bắc Yên. Cỡ mẫu quan trắc chất lượng nước bao gồm 05 vị trí đại diện dọc theo chiều dòng chảy (tại tuyến đập, sau nhà máy, cách nhà máy 500 m, 1.000 m và 1.500 m). Cỡ mẫu điều tra xã hội học và thủy nông bao gồm toàn bộ 22 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn và 15 công trình thủy lợi trên địa bàn 2 xã Tà Xùa và Suối Tọ.

Phương pháp chọn mẫu nước mặt tuân thủ nghiêm ngặt kỹ thuật lấy mẫu tổ hợp phân tầng theo tiêu chuẩn TCVN 6663-6:2008 và TCVN 6663-3:2008. Tại mỗi vị trí, 03 mẫu đơn được thu thập ở các tầng độ sâu 5 cm cách bờ, 5 cm giữa dòng và 20 cm giữa dòng để tạo thành một mẫu tổ hợp đồng nhất. Các thông số pH và DO được đo nhanh tại hiện trường bằng máy đo đa chỉ tiêu YSI 556 theo TCVN 6492:2011 và TCVN 7325:2004.

Lý do lựa chọn mô hình Tank kết hợp phương pháp lưu vực tương tự là vì suối Sập không có trạm quan trắc thủy văn trực tiếp, trong khi địa hình núi dốc đòi hỏi mô hình có độ nhạy cao với lượng mưa. Mô hình Tank sau khi hiệu chỉnh giai đoạn 1961 - 1968 đạt hệ số Nash-Sutcliffe 83,2% và kiểm định giai đoạn 1969 - 1976 đạt hệ số 80,5%, khẳng định tính chính xác vượt trội so với các công thức kinh nghiệm thông thường. Quá trình phân tích trong phòng thí nghiệm đối với các chỉ tiêu TSS, COD, BOD5, Nitrat, Amoni và kim loại nặng được thực hiện tại Trung tâm Quan trắc Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La trong khung thời gian từ tháng 01/2018 đến tháng 09/2018.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, chuẩn dòng chảy năm tại tuyến đập Suối Sập I được xác định chính xác ở mức 8,92 m³/s (tương ứng mô đun dòng chảy Mo đạt 39,64 l/s.km²). Phân phối dòng chảy năm thiết kế biến động rõ rệt giữa các tần suất: năm nhiều nước với tần suất P = 10% đạt lưu lượng 11,30 m³/s, năm trung bình P = 50% đạt 8,79 m³/s và năm ít nước P = 90% giảm xuống 6,65 m³/s (chênh lệch tới 41,1% giữa năm nhiều nước và năm khô hạn).

Thứ hai, đặc trưng dòng chảy mùa kiệt kéo dài suốt 7 tháng (từ tháng XI đến tháng V năm sau) với lưu lượng bình quân đạt 4,07 m³/s. Giai đoạn 3 tháng kiệt nhất (tháng II, III, IV) có lưu lượng giảm sâu còn 2,90 m³/s, trong đó tháng kiệt nhất là tháng III chỉ đạt 2,33 m³/s ở điều kiện trung bình và tụt xuống 1,49 m³/s khi tần suất kiệt lên đến P = 95%. Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất tính toán theo công thức Alecxâyep ở tần suất P = 1% đạt mức 1.117,0 m³/s.

Thứ ba, hoạt động của nhà máy tạo ra sự phân hóa rõ nét về chất lượng nước giữa khu vực hồ chứa và hạ lưu. Tại điểm đo trong lòng hồ trước đập, hàm lượng oxy hòa tan (DO) chỉ đạt 4,9 mg/L (thấp hơn ngưỡng giới hạn 5,0 mg/L của QCVN 08-MT:2015/BTNMT Cột A2) do hiện tượng phân hủy yếm khí sinh khối thực vật ngập nước. Tuy nhiên, sau khi qua tuabin xả về dòng suối tự nhiên, DO tăng mạnh lên 5,4 mg/L và duy trì ổn định từ 5,2 đến 5,3 mg/L ở các vị trí cách xa từ 500 m đến 1.500 m. Hàm lượng TSS tại vị trí xả sau nhà máy tăng lên 35 mg/L (tăng 16,7% so với mức 30 mg/L tại đập) do xung lực dòng chảy xáo động đáy suối, sau đó giảm dần về 30 mg/L tại điểm cách 1.500 m. Tất cả các chỉ tiêu BOD5 (dưới 4,0 mg/L), COD (dưới 9,0 mg/L) và kim loại nặng (Fe dao động 0,62 - 0,75 mg/L, Zn dưới 0,10 mg/L) đều nằm trong giới hạn cho phép.

Thứ tư, tổng nhu cầu khai thác nước sinh hoạt hạ lưu của hai xã Tà Xùa và Suối Tọ là 304,2 m³/ngày đêm (trong đó xã Tà Xùa khai thác 122,2 m³/ngày đêm qua 5 công trình; xã Suối Tọ khai thác 182,0 m³/ngày đêm qua 17 công trình). Nhu cầu cấp nước tưới nông nghiệp hạ du ghi nhận công trình thủy lợi Suối Sập tiếp nhận lưu lượng 1,0 m³/s để phục vụ tưới tiêu cho vùng lúa xã Gia Phù.

Thảo luận kết quả

Chế độ vận hành nhật triều của thủy điện Suối Sập I tạo nên sự dao động mực nước cục bộ theo chu kỳ phát điện hàng ngày. Vào các khung giờ tích nước, lưu lượng đoạn suối 1,3 km sau đập bị sụt giảm nghiêm trọng nếu không có cửa xả dòng chảy môi trường. Hiện tượng gia tăng TSS lên 35 mg/L sau cửa xả phản ánh quá trình xói lở đáy và bờ suối dưới tác động của dòng chảy tốc độ cao khi vận hành đầy tải 22,47 m³/s.

Các dữ liệu nghiên cứu này có thể được trình bày một cách trực quan qua biểu đồ phân phối đường quá trình lưu lượng năm theo các tần suất thiết kế P = 10%, 50%, 90% và bảng ma trận quan trắc 11 thông số lý hóa nước mặt theo khoảng cách dòng chảy từ 0 m đến 1.500 m. Khi so sánh với các công trình bậc thang lân cận như Suối Sập II (14,4 MW) và Suối Sập III (14,0 MW), nguồn nước tại Suối Sập I có tốc độ tự làm sạch rất nhanh. Nhờ độ dốc lòng suối lớn đạt 38,8‰ với nhiều ghềnh thác xáo trộn không khí, hàm lượng DO đã hồi phục vượt mức quy chuẩn chỉ sau 500 m dòng chảy. Điều này chứng minh tác động hóa lý của dự án mang tính cục bộ và hoàn toàn có thể kiểm soát nếu duy trì dòng chảy xả đáy liên tục 1,0 m³/s.

Đề xuất và khuyến nghị

Vận hành duy trì nghiêm ngặt lưu lượng xả dòng chảy tối thiểu không dưới 1,0 m³/s qua cống xả cát kết hợp trong mọi thời điểm tích nước mùa kiệt (từ tháng XI đến tháng V hàng năm). Chủ thể thực hiện là Công ty TNHH Xuân Thiện Ninh Bình dưới sự giám sát trực tiếp của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Sơn La, nhằm bảo đảm nguồn cấp nước sinh hoạt 304,2 m³/ngày đêm và duy trì nguồn nước tưới 1,0 m³/s cho hạ du. Timeline áp dụng: Thực hiện liên tục trong suốt vòng đời dự án từ năm 2019.

Gia cố và kiên cố hóa hệ thống tiêu năng lòng dẫn hạ lưu sau cửa xả nhà máy trên chiều dài 500 m bằng rọ đá và kè bê tông chống sạt lở. Mục tiêu là triệt tiêu năng lượng thừa của dòng nước xả phát điện 22,47 m³/s, kiểm soát hiện tượng bào mòn bờ suối và hạ thấp hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) từ 35 mg/L về ngưỡng ổn định dưới 30 mg/L. Chủ thể thực hiện là Chủ đầu tư nhà máy thủy điện Suối Sập I. Timeline hoàn thành: Giai đoạn 2019 - 2020.

Thiết lập hệ thống quan trắc tự động liên tục 24/7 đối với mực nước hồ, lưu lượng xả đáy và lưu lượng phát điện với sai số đo đạc dưới 3%. Dữ liệu phải được truyền tự động 15 phút một lần về Trung tâm điều hành của Sở Nông nghiệp và PTNT cùng UBND huyện Bắc Yên và Phù Yên để phục vụ công tác điều phối nước liên hồ chứa Suối Sập I, II, III và Háng Đồng A. Timeline triển khai: Trong vòng 12 tháng kể từ khi phê duyệt quy trình vận hành.

Triển khai chương trình khoanh nuôi và trồng mới 200 ha rừng phòng hộ đầu nguồn lưu vực suối Sập, kết hợp thu gom định kỳ rác thải và thực vật trôi nổi trong lòng hồ 3 tháng/lần. Hoạt động này giúp duy trì chỉ số DO trong hồ luôn trên 5,0 mg/L, giảm thiểu tốc độ bồi lắng dung tích chết 5,07 triệu m³ và ổn định nguồn sinh thủy. Chủ thể phối hợp thực hiện: Hạt Kiểm lâm huyện Bắc Yên, UBND xã Tà Xùa, xã Suối Tọ và Chủ đầu tư. Timeline thực hiện: Giai đoạn 2019 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Công Thương, Chi cục Thủy lợi tỉnh Sơn La): Sử dụng tài liệu làm căn cứ khoa học chuẩn xác để thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cấp giấy phép khai thác tài nguyên nước mặt và phê duyệt quy trình vận hành liên hồ chứa bậc thang trên các lưu vực sông suối nhỏ Tây Bắc.

Chủ đầu tư và kỹ sư vận hành nhà máy thủy điện: Vận dụng phương pháp tính toán thủy văn lưu vực dốc và cơ chế điều tiết dòng chảy tối thiểu 1,0 m³/s để xây dựng kế hoạch phát điện 63,89 triệu kWh/năm tối ưu, vừa gia tăng hiệu quả kinh tế vừa tuân thủ đầy đủ trách nhiệm bảo vệ môi trường dòng chảy.

Các viện nghiên cứu, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Khoa học Môi trường, Kỹ thuật Tài nguyên nước: Kế thừa khung phương pháp luận kết hợp mô hình Tank với trạm tương tự thủy văn (đạt hệ số Nash 83,2%) như một case study điển hình để giải quyết bài toán thiếu số liệu thủy văn vùng núi cao.

Chính quyền địa phương và các cộng đồng dân cư xã Tà Xùa, xã Suối Tọ: Nắm vững các số liệu pháp lý và kỹ thuật về chế độ xả nước của nhà máy để thực hiện quyền giám sát cộng đồng, chủ động kế hoạch lấy nước tưới cho 76 ha lúa và quản lý hiệu quả 22 công trình cấp nước sinh hoạt nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

Hoạt động của nhà máy thủy điện Suối Sập I tác động tiêu cực nhất đến thông số chất lượng nước nào?

Thông số bị ảnh hưởng tiêu cực nhất là oxy hòa tan (DO) trong lòng hồ trước đập, chỉ đạt 4,9 mg/L (dưới chuẩn 5,0 mg/L của QCVN 08-MT:2015/BTNMT Cột A2) do thực vật bị ngập phân hủy yếm khí. Ngoài ra, hàm lượng chất rắn lơ lửng (TSS) sau cửa xả tăng lên 35 mg/L do áp lực xói mòn dòng chảy, nhưng sau đó đã tự lắng đọng về 30 mg/L ở khoảng cách 1.500 m.

Tại sao nghiên cứu xác định lưu lượng xả dòng chảy tối thiểu sau đập là 1,0 m³/s?

Lưu lượng 1,0 m³/s là mức xả bắt buộc để duy trì dòng chảy liên tục cho 1,3 km đoạn suối giữa chân đập và nhà máy, bảo vệ hệ sinh thái thủy sinh trong mùa khô kiệt. Mức xả này đồng thời đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước cho 22 công trình sinh hoạt nông thôn (tổng nhu cầu 304,2 m³/ngày đêm) và duy trì lưu lượng tưới cho các phai đập nông nghiệp hạ lưu.

Mô hình Tank được ứng dụng như thế nào trong điều kiện lưu vực suối Sập không có trạm đo thực tế?

Nghiên cứu sử dụng số liệu mưa và bốc hơi của các trạm lân cận (Phù Yên, Quỳnh Nhai, Bắc Yên) kết hợp tài liệu quan trắc của trạm tương tự Phiềng Hiềng để hiệu chỉnh mô hình Tank. Mô hình đạt độ tin cậy rất cao với hệ số Nash-Sutcliffe đạt 83,2% ở pha hiệu chỉnh và 80,5% ở pha kiểm định, xác định chuẩn dòng chảy năm tuyến đập đạt 8,92 m³/s.

Chế độ vận hành nhật triều của nhà máy tác động như thế nào đến hạ du vào mùa khô?

Trong các giờ tích nước, lưu lượng hạ lưu suy giảm làm hạ thấp mực nước suối, gây khó khăn cho việc lấy nước tại các công trình sinh hoạt và thủy lợi. Ngược lại, vào các khung giờ phát điện với lưu lượng xả đạt đỉnh 22,47 m³/s, mực nước suối dâng cao nhanh chóng. Do đó, việc duy trì xả đáy 1,0 m³/s là điều kiện tiên quyết để ổn định dòng chảy ngày đêm.

Nguy cơ bồi lắng lòng hồ chứa Suối Sập I được đánh giá và kiểm soát ra sao?

Hồ chứa có dung tích toàn bộ 9,86 triệu m³ và dung tích chết 5,07 triệu m³. Do lưu vực có độ dốc trung bình 38,8‰, bùn cát từ thượng nguồn dễ bị cuốn trôi vào lòng hồ. Tuy nhiên, việc vận hành liên hoàn với các hồ bậc thang phía trên (Háng Đồng A) kết hợp quy trình xả bùn cát đáy định kỳ qua cửa van xả sâu giúp kiểm soát tốt độ bồi lắng và bảo đảm tuổi thọ công trình.

Kết luận

Đề tài đã lượng hóa toàn diện các đặc trưng thủy văn lưu vực suối Sập với chuẩn dòng chảy năm đạt 8,92 m³/s, dòng chảy mùa kiệt bình quân 4,07 m³/s và đỉnh lũ thiết kế 1.117,0 m³/s.

Khẳng định chất lượng nước mặt sau khi qua nhà máy vẫn duy trì tốt theo QCVN 08-MT:2015/BTNMT Cột A2, chỉ số DO hồi phục nhanh lên 5,4 mg/L nhờ quá trình xáo trộn thủy lực tự nhiên.

Thống kê chi tiết hiện trạng khai thác nguồn nước tại hạ lưu với 22 công trình sinh hoạt (304,2 m³/ngày đêm) và hệ thống thủy nông phục vụ 76 ha lúa nước tại hai xã Tà Xùa, Suối Tọ.

Xác lập cơ sở khoa học vững chắc cho việc thực thi xả dòng chảy tối thiểu thường xuyên 1,0 m³/s qua cống xả đáy để bảo vệ dòng chảy môi trường trong mùa kiệt.

Đề xuất đồng bộ các giải pháp công trình gia cố 500 m kè tiêu năng và giải pháp phi công trình quan trắc tự động 24/7 kết hợp bảo vệ 200 ha rừng phòng hộ đầu nguồn.

Về lộ trình tiếp theo, giai đoạn 2019 - 2022 cần hoàn thiện việc lắp đặt hệ thống giám sát tự động và ban hành quy chế phối hợp xả nước liên hồ chứa; giai đoạn 2023 - 2025 tập trung hoàn thành phủ xanh 200 ha rừng đầu nguồn. Công trình nghiên cứu là tài liệu tham khảo khoa học giá trị cho các nhà quản lý tài nguyên, các đơn vị tư vấn năng lượng và cộng đồng học thuật trong tiến trình phát triển thủy điện bền vững tại Việt Nam.