CHƯƠNG 1 Đề tài “Ảnh hưởng của rủi ro tín dụng đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam” nghiên cứu về mối quan hệ giữa RRTD và hiệu quả hoạt động của ngân hàng, cụ thể là của NHTM tại Việt Nam nhằm đưa ra các kiến nghị thực tiễn cải thiện công tác quản trị rủi ro trong quá trình hoạt động của NHTM. Với mục tiêu cụ thể là nêu ra thực trạng của RRTD và hoạt động của NHTM tại Việt Nam hiện nay, đánh giá mức độ ảnh hưởng của RRTD đến hiệu quả hoạt động của chúng và đề xuất hàm ý chính sách hỗ trợ các nhà quản trị NHTM đưa ra các quyết định phù hợp để hạn chế rủi ro, các câu hỏi nghiên cứu đã được đặt ra và được chú tâm đào sâu trong cả quá trình nghiên cứu đề tài này. Để đạt được mục tiêu đề ra ban đầu, khoá luận sẽ tiến hành nghiên cứu trên 240 quan sát (24 NHTM Việt Nam từ 2013 đến 2022) bằng ba phương pháp ước lượng khác nhau đồng thời kiểm tra nghiêm ngặt các sai sót và khắc phục nếu có. Khoá luận tốt nghiệp sẽ gồm năm chương và các lý thuyết, mô hình, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được trình bày theo bố cục bốn chương tiếp theo.
12 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM Trước khi nghiên cứu và phân tích về các số liệu thực tế, ta sẽ không thể bỏ qua cơ sở lý thuyết cấu thành nên các chủ thể đang nghiên cứu. Tại chương 2, các cơ sở lý thuyết liên quan đến RRTD và hiệu quả hoạt động của NHTM như khái niệm, định nghĩa,… sẽ được trình bày đầy đủ và rõ ràng để chứng minh rằng đề tài nghiên cứu có sự tham khảo và dựa trên các lý thuyết hoàn toàn có cơ sở khoa học. Các kết quả của các nghiên cứu trước đó cũng sẽ được đề cập trong chương này nhằm xây dựng nền móng cho việc tạo dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết dấu kỳ vọng cho các yếu tố thuộc mô hình, đóng vai trò là căn cứ khoa học đáng tin cậy. Cơ sở lý thuyết về rủi ro tín dụng 2.
Khái niệm RRTD được định nghĩa là nguy cơ kinh tế của doanh nghiệp bị tổ hại do khách hàng không thể thanh toán khoản vay hoặc có dấu hiệu trốn tránh trách nhiệm thanh toán nợ cho ngân hàng (Myers và Brealey 1980). RRTD là việc tài chính của ngân hàng bị tổn thất khi khách hàng hoặc đổi tác không thực hiện đúng các nghĩa vụ theo hợp đồng đã ký kết (chủ yếu là RRTD liên quan các khoản vay và ứng trước cho khách hàng) (Heffernan 1996). Theo Henie & Sonja (1999), RRTD là đặc trưng của hoạt động ngân hàng và được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc vốn gốc so với thời hạn thoả thuận trong hợp đồng tín dụng. Việc thanh toán bị hoãn lại, hoặc tồi tệ hơn huỷ bỏ thanh toán toàn bộ khoản nợ làm lưu chuyển tiền tệ bị bất ổn định và ảnh hưởng tới ngân hàng.
Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (2001) đưa ra khái niệm RRTD hay rủi ro vỡ nợ là khả năng mất một phần hoặc toàn bộ khoản tín dụng mà ngân hàng đã cung cấp dưới sự tác động của các sự kiện liên quan đến khách hàng như phá sản, không 13 trả nợ khi đáo hạn, thay đổi xếp hạng tín dụng và cơ cấu lại khoản vay hoặc thanh toán chậm trễ khoản nợ cho ngân hàng. Hai nhà kinh tế Sauders và Lange (2002) đưa ra nhận định RRTD thực chất là khoản lỗ vốn tiềm ẩn trong hoạt động cấp tín dụng cho khách hàng của NHTM. Nguồn thu nhập dự tính được tạo ra từ khoản vay mà ngân hàng cấp cho khách hàng không được thực hiện đúng như kế hoạch. Tổng hợp lại, rủi ro tín dụng là khả năng ngân hàng phải đối diện với thiệt hại tài chính phát sinh khi bên nhận tín dụng không thực hiện đúng nghĩa vụ đã cam kết với ngân hàng, bao gồm không thanh toán lẫn thanh toán trễ hạn đối với các khoản nợ gốc hoặc nợ lãi.
Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến nguy cơ sụp đổ, phá sản của ngân hàng. Đo lường RRTD có thể được đo lường bằng nhiều chỉ số đa dạng. Theo Laeven và Majnoni (2003), khi RRTD xảy ra thì không những giá trị các khoản cho vay mà toàn bộ tài sản của ngân hàng đều có nguy cơ bị tổn thất nên có thể được đo lường RRTD bằng tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản ngân hàng. Tuy nhiên, các nghiên cứu sau này cho thấy các tác giả ưu tiên sử dụng cùng lúc đa dạng các chỉ số để đại diện cho RRTD.
Boahene và cộng sự (2012) chọn ra ba chỉ số: Nợ đã xóa cho khách hàng trên tổng dư nợ, nợ xấu trên tổng dư nợ, lợi nhuận trước dự phòng trên tổng dư nợ. Muhammed và Garba (2014) thì chọn ra hai chỉ số để đo lường RRTD là Tỷ lệ nợ xấu và chi phí nợ vay. Những nghiên cứu gần đây dần lược đi những chỉ số không thể hiện được chính xác mức độ RRTD của NHTM, đồng thời đơn giản hoá và thu hẹp lại chỉ còn các chỉ số như tỷ lệ nợ xấu, hệ số an toàn vốn theo nghiên cứu của Kwashie và cộng sự (2022). Một số tác giả như Nguyễn Thành Đạt và cộng sự (2021), Ardelia và Lubis (2023), Nguyễn Quốc Anh (2023) có xu hướng sử dụng hai chỉ số tỷ lệ nợ xấu và dự phòng tín dụng để đo lường RRTD.
14 Xét chung lại, có chỉ số được sử dụng phổ biến đại diện cho RRTD là tỷ lệ nợ xấu (NPL) của các NHTM và bên cạnh đó tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng (LLR) cũng là yếu tố thể hiện rõ ràng RRTD. Công thức đo lường: Tổng dư nợ của nhóm nợ xấu Tổng giá trị dự phòng nợ xấu NPL = LLR = Tổng nợ cho vay Tổng nợ cho vay 2. Hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Antonio và cộng sự (2006) phát biểu: Sự so sánh chênh lệch giữa các nguồn lực input (đầu vào) và giá trị output được tạo ra (đầu ra), ví dụ như lợi nhuận và chi phí, được gọi là hiệu quả.
Cùng chung một nguồn lực input xác định, nếu hoạt động A tạo ra giá trị output lớn hơn hoạt động B thì hoạt động A hiệu quả hơn hoạt động B. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng được xem như phần lợi nhuận mà ngân hàng thu được từ hoạt động kinh doanh mang lại trong một khoảng thời gian nhất định (Trương Quang Thông 2012). Đối với Ongore và Kusa (2013), khái niệm hiệu quả được dùng để đánh giá và nhận xét về mối tương quan giữa các yếu tố khan hiếm và hàng hóa - dịch vụ, các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào và mức độ thành công mà các doanh nghiệp hoặc các ngân hàng đạt được trong việc phân bổ các tài nguyên có thể sử dụng và các hàng hóa - dịch vụ mà họ sản xuất đáp ứng mục tiêu đã đề ra. Tóm lại, hiệu quả hoạt động của các NHTM có thể hiểu là khả năng sử dụng triệt để các yếu tố tài nguyên đầu vào trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng nhằm đạt được mục tiêu trong kế hoạch và với chi phí ở mức tối ưu.
Đo lường Có nhiều chỉ tiêu tài chính được sử dụng đại diện cho hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại, tuy nhiên, được sử dụng phổ biến hơn cả là nhóm các chỉ 15 tiêu khả năng sinh lời. Theo Rose (1999), NHTM hoạt động kinh doanh tương đối giống một doanh nghiệp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận trong mức độ rủi ro cho phép và khả năng sinh lời là mục tiêu được ưu tiên hàng đầu trong quá trình hoạt động. Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá toàn bộ quá trình và hiệu quả hoạt động của ngân hàng (Velnamby và Nimalathasan 2008). Các chỉ số khả năng sinh lời được sử dụng phổ biến trong các bài nghiên cứu trong và ngoài nước có thể kể đến tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản, tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ thu nhập lãi cận biên.
• Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) ROA (Return on Assets) là chỉ số thể hiện tỷ suất sinh lời trên tài sản, đánh giá hiệu quả đầu tư vào tài sản đồng thời thể hiện năng lực quản trị tài chính và đầu tư của các nhà quản trị (Hassan và Bashir 2003). Chỉ số này thể hiện tỷ lệ giữa lợi nhuận sau thuế so với tài sản được đem vào hoạt động sản xuất kinh doanh. ROA càng cao càng thể hiện hiệu quả sử dụng tài sản của doanh nghiệp càng tốt. Tuy nhiên, có trường hợp ROA cao nhưng không phải là sử dụng tài sản hiệu quả mà vì ngân hàng thiếu hụt đầu tư vào tài sản, điều này tác động xấu đến hoạt động kinh doanh lâu dài.
Lợi nhuận sau thuế ROA = Tổng tài sản bình quân • Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROE (Return on Equity) là chỉ số thể hiện tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, đánh giá khả năng tạo giá trị tăng thêm cho cổ đông. ROE được xem là một trong các chỉ số đánh giá khả năng sinh lời của NHTM một các toàn diện (Sufian 2011). Chỉ số này thể hiện tỷ lệ giữa lợi nhuận ròng so với vốn chủ sở hữu mà doanh nghiệp sử dụng vào hoạt động của doanh nghiệp ROE càng cao càng thể hiện hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Tuy nhiên có trường hợp ROE cao nhưng ngân hàng lệ thuộc quá nhiều vào vốn vay, khiến cho cơ cấu tài chính mất cân bằng và chứa nhiều rủi ro.
Lợi nhuận sau thuế ROE = Tổng vốn chủ sở hữu bình quân 16 • Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) NIM (Net Interest Margin) là chỉ số thể hiện tỷ lệ thu nhập lãi cận biên, đánh giá khả năng tối đa hoá các nguồn thu bằng lãi và tối thiểu hoá chi phí từ lãi của ngân hàng thông qua phần chênh giữa lợi nhuận từ các khoản phát sinh và số tiền lãi mà ngân hàng phải trả cho khách hàng tiền gửi (là chi phí lãi phải trả) theo Ho và Saunders (1981). NIM của một ngân hàng mang giá trị dương biểu thị cho ngân hàng đó hoạt động có tạo ra lợi nhuận, ngược lại nếu NIM có giá trị âm thì ngân hàng hoạt động không hiệu quả. NIM càng lớn biểu thị cho khả năng sinh lời của ngân hàng càng cao và khả năng đầu tư sinh lời càng lớn.