Chương I: Tổng quan về ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng thương mại, và mô hình nghiên cứu - Chương II: Thực trạng ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến khả năng sinh lợi của Ngân hàng TMCP Á Châu - Chương III: Giải pháp kiểm soát ảnh hưởng của rủi ro thanh khoản đến khả năng sinh lợi nhằm nâng cao khả năng sinh lợi của Ngân hàng TMCP Á Châu 5 CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ ẢNH HƢỞNG CỦA RỦI RO THANH KHOẢN ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại: 1.1 Khái niệm rủi ro: Theo nghiên cứu các loại rủi ro của ngân hàng (2008), GARP (Global Association of Risk Professionals – Hiệp hội toàn cầu của chuyên gia rủi ro) cho rằng : Rủi ro gồm một số định nghĩa sau : khả năng một sự kiện không mong muốn xảy ra, mức độ thiệt hại do sự kiện bất ngờ, xác xuất sự việc xảy ra ngoài dự đoán, ảnh hưởng của một kết quả bất lợi. Các ngân hàng phải đối mặt với một số loại rủi ro, sau đây là ví dụ các loại rủi ro mà ngân hàng gặp phải như : người vay không thể thanh thoán hay thanh toán trễ hạn, người gửi tiền có thể rút tiền trước hạn, lãi suất thị trường thay đổi, khoản đầu tư vào chứng khoán có thể mất đi, lỗi hệ thống máy tính, rủi ro đạo đức con người. Trần Huy Hoàng, Quản trị ngân hàng (2010, trang 158) : “Rủi ro là những biến cố không mong đợi mà khi xảy ra sẽ dẫn đến sự tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định”.
Tóm lại, Rủi ro là khả năng, xác suất những biến cố không mong đợi xảy ra dẫn đến tổn thất về tài sản của ngân hàng, thua lỗ hay giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải gia tăng chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định.2 Các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thƣơng mại: Theo nghiên cứu các loại rủi ro của ngân hàng (2008), GARP (Global Association of Risk Professionals - Hiệp hội toàn cầu của chuyên gia rủi ro) cho rằng : Basel II tập trung vào các loại rủi ro sau : rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động, đồng thời cũng nhắc đến trong hoạt động ngân hàng cũng còn có các loại rủi ro khác. 6 Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, khi con nợ không thực hiện nghĩa vụ trả lãi hay trả tiền vay theo các điều kiện đã thỏa thuận trong hợp đồng vay. Rủi ro tín dụng là rủi ro lớn nhất mà hầu hết các ngân hàng phải đối mặt. Rủi ro tín dụng thường được định nghĩa là khả năng con nợ không trả được nợ.
Rủi ro thị trường là rủi ro thua lỗ của ngân hàng phát sinh từ sự biến động giá cả của thị trường như sự biến động lãi suất, tỷ giá hối đoái,cổ phiếu và giá cả hàng hóa. Rủi ro thị trường bao gồm : Rủi ro lãi suất : Là khả năng thua lỗ do sự thay đổi lãi suất. Rủi ro này xuất hiện khi các tài sản của ngân hàng (khoản cho vay và trái phiếu) thường có kỳ hạn dài hơn so với nợ ngân hàng (tiền gửi). Rủi ro này được định nghĩa theo 2 cách : thứ nhất, nếu lãi suất tăng, giá trị của các tài sản dài hạn sẽ giảm so với giá trị của nợ ngắn hạn, giảm vốn chủ sở hữu của ngân hàng , và thứ hai, nếu lãi suất tăng,các ngân hàng sẽ phải trả lãi suất cao hơn đối với tiền gửi khi mà các khoản vay dài hạn với lãi suất đã thỏa thuận trước.
Rủi ro vốn cổ phần : là rủi ro thua lỗ do sự thay đổi giá cổ phiếu. Rủi ro tỷ giá : là rủi ro thay đổi giá trị tài sản hay nợ của ngân hàng do sự biến động của tỷ giá. Rủi ro hàng hóa là rủi ro thua lỗ do sự thay đổi giá cả hàng hóa. Có nhiều loại rủi ro hàng hóa, bao gồm : rủi ro hàng hóa nông nghiệp (lúa, mì,.), hàng hóa công nghiệp và năng lượng (gas, dầu,.
Giá trị của hàng hóa thay đổi theo cung cầu thị trường. Rủi ro hoạt động là rủi ro thua lỗ trong quá trình hoạt động xuất phát từ hoạt động nội bộ, con người và hệ thống, hoặc từ bên ngoài. Rủi ro hoạt động bao gồm cả rủi ro pháp lý, nhưng không bao gồm rủi ro chiến lược và rủi ro về uy tín. Rủi ro thanh khoản liên quan đến khả năng của ngân hàng không thể đáp ứng các nghĩa vụ, bao gồm cả tài trợ cho sự gia tăng của tài sản.
7 Rủi ro kinh doanh là khả năng tổn thất do sự giảm sút vị thế cạnh tranh của ngân hàng và các kỳ vọng về triển vọng phát triển của ngân hàng khi thị trường thay đổi. Rủi ro uy tín là khả năng suy giảm uy tín do các dư luận. Ngân hàng mất lòng tin của khách hàng, mặc dù hệ thống, quy trình và khả năng tài chính đều tốt.2 Rủi ro thanh khoản: 1.1 Khái niệm thanh khoản: Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008) : “Thanh khoản là khả năng tài trợ cho sự tăng lên trong tài sản và thực hiện các nghĩa vụ khi đến hạn. Trong định nghĩa này, giả định các nghĩa vụ sẽ được thực hiện ở chi phí hợp lý”.
Trần Huy Hoàng, Quản trị ngân hàng (2010, trang 185) : “Thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn có thể dùng để chi trả với chi phí hợp lý ngay khi nhu cầu vốn phát sinh”. Tóm lại, thanh khoản là khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn để tài trợ cho sự tăng lên trong tài sản và thực hiện các nghĩa vụ khi đến hạn với chi phí hợp lý.2 Khái niệm rủi ro thanh khoản: Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (2008): “Rủi ro thanh khoản phát sinh từ việc ngân hàng không có khả năng đáp ứng sự suy giảm trong khoản phải trả hay tài trợ cho việc gia tăng trong tài sản. Khi một ngân hàng thiếu thanh khoản, nó không thể có đủ tiền bằng cách huy động vốn hoặc chuyển đổi các tài sản kịp thời, ở chi phí hợp lý, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận”. Trần Huy Hoàng, Quản trị ngân hàng (2010, trang 185) : “Rủi ro thanh khoản là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả, không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền hoặc không có khả năng vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán”.
Tóm lại, rủi ro thanh khoản là rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng không có khả năng tiếp cận các khoản tài sản hoặc nguồn vốn để đáp ứng sự suy 8 giảm trong khoản phải trả hay tài trợ cho việc gia tăng trong tài sản ở mức chi phí hợp lý, do đó ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng.3 Các chỉ tiêu xác định rủi ro thanh khoản: Có rất nhiều chỉ tiêu khác nhau để xác định rủi ro thanh khoản của một tổ chức tín dụng, sau đây bài nghiên cứu nêu một số chỉ tiêu xác định rủi ro thanh khoản như sau: 1.1 Trạng thái thanh khoản ròng: Trạng thái thanh khoản ròng (NPLt) = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản. Với: Cung thanh khoản : là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng, bao gồm : các khoản tiền gửi đang đến, doanh thu từ việc bán các khoản dịch vụ, thu hồi các khoản tín dụng đã cấp, bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng, vay mượn từ thị trường tiền tệ. Cầu thanh khoản : là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động ngân hàng,các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng, bao gồm : khách hàng rút các khoản tiền gửi, yêu cầu cấp các khoản tín dụng có chất lượng cao, hoàn trả các khoản vay mượn phi tiền gửi, chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ. Những trường hợp có thể xảy ra : Thặng dư thanh khoản khi NPLt > 0 : Ngân hàng trong tình trạng thừa thanh khoản.
Nhà quản trị phải đưa ra quyết sử dụng nguồn dư thừa thanh khoản để đầu tư kiếm lời cho đến khi nguồn thanh khoản này được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản tương lai. Thặng dư thanh khoản xảy ra khi nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả, ngân hàng không tiếp cận được với khách hàng hoặc không lựa chọn được nhiều khách hàng để cho vay. Trong phạm vi của một ngân hàng, đây là việc không khai thác hết tiềm năng sinh lời của tài sản Có, chiếm giữ quá nhiều tài sản Có không có khả năng sinh lời (tồn quỹ tiền mặt quá lớn), hoặc có thể do 9 ngân hàng tăng vốn quá nhanh trong khi chưa có phương án sử dụng vốn hiệu quả. Thanh khoản thừa được ngân hàng sử dụng như sau : mua các chứng khoán dự trữ thứ cấp đã bán ra trước đó, cho vay trên thị trường tiền tệ, gửi tiền tại các tổ chức tín dụng khác,….
Thiếu hụt thanh khoản khi NPLt < 0 : Ngân hàng đang trong tình trạng thiếu hụt vốn để hoạt động. Thiếu hụt thanh khoản dễ để mất những cơ hội đầu tư tốt mang lại lợi nhuận cho ngân hàng, thậm chí có khả năng mất khách hàng. Trong trường hợp thiếu hụt thanh khoản nhà quản trị phải đưa ra quyết định bổ sung thanh khoản để đáp ứng nhu cầu vốn với chi phí thấp nhất và kịp thời nhất. Ngân hàng có thể áp dụng các biện pháp sau để xử lý: sử dụng dự trữ bắt buộc dư ra nếu có, bán dự trữ thứ cấp (các chứng khoán ngắn hạn do Chính phủ phát hành), vay qua đêm, vay tái chiết khẩu tại Ngân hàng Nhà Nước, huy động từ thị trường tiền tệ : phát hành chứng chỉ tiền gửi có mệnh giá lớn để huy động vốn.2 Tỷ lệ về khả năng chi trả: Tỷ lệ về khả năng chi trả = Tỷ lệ về khả năng chi trả được quy định tại Thông tư 13/2010/TT-NHNN, và được sửa đổi tại Thông tư 19/2010/TT-NHNN.
(Xem thêm Phụ lục 4) - Tỷ lệ về khả năng chi trả tối thiểu 15% giữa giá trị các tài sản “Có” có thể thanh toán ngay và các tài sản “Nợ” sẽ đến hạn thanh toán trong thời gian 1 tháng tiếp theo.