Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu: Nêu được lý do chọn đề tài, mục tiêu và các câu hỏi nghiên cứu, ý nghĩa và điểm mới, đối tượng, phạm vi, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của đề tài. Chương 2: Tổng quan Lý thuyết và các nghiên cứu trước đây: Phần này tác giả trình bày các quan điểm về kiệt quệ tài chính, quản trị công ty và các nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của Quản trị công ty đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính đã được nghiên cứu trước đây. Sau đó, tác giả phát triển các giả thuyết nghiên cứu. Chương 3: Dữ liệu và Phương pháp nghiên cứu: Tác giả trình bày quy trình chọn mẫu và thu thập dữ liệu, kỳ vọng dấu của các biến kiểm soát, phương pháp thống kê và mô hình nghiên cứu cụ thể.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu: Trình bày và phân tích các kết quả nghiên cứu. Tác giả đưa ra ảnh hưởng của Quản trị Công ty đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính của các Doanh nghiệp ở Việt Nam, đo lường mức độ tin cậy và tính vững của kết quả nghiên cứu. Chương 5: Kết luận, hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo: Tóm tắt kết quả nghiên cứu đạt được, đồng thời nêu những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo. 5 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA QUẢN TRỊ CÔNG TY ĐẾN KHẢ NĂNG KIỆT QUỆ TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP Do hạn chế trong dữ liệu có sẵn cũng như tính đa dạng và phức tạp về các hình thức khó khăn của doanh nghiệp, làm cho các quan điểm về kiệt quệ tài chính khác nhau giữa các nhà nghiên cứu (theo Wruck, 1990).
Vì vậy, phần tiếp theo của bài nghiên cứu tác giả sẽ trình bày thống nhất khái niệm về kiệt quệ tài chính và đưa ra các dấu hiệu để nhận biết một doanh nghiệp bị kiệt quệ tài chính làm cơ sở nghiên cứu. Sau đó, tác giả sẽ trình bày các lý thuyết liên quan đến quản trị công ty tác động đến khả năng kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp. Tiếp theo, tác giả trình bày tổng quan lại một số công trình nghiên cứu trước đây về ảnh hưởng của quản trị công ty đến khả năng xảy ra kiệt quệ tài chính của doanh nghiệp. Và cuối cùng, tác giả dựa vào các kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây, kết hợp tình hình thực tế ở Việt Nam để phát triển các giả thuyết nghiên cứu.1 Tổng quan lý thuyết nghiên cứu 2.1 Khái niệm kiệt quệ tài chính Theo Alman và Hotchkiss (2005), các doanh nghiệp lâm vào kiệt quệ tài chính có thể được xác định thông qua các giai đoạn khó khăn mà doanh nghiệp đó trải qua.
Như vậy, kiệt quệ tài chính có thế mang nhiều trạng thái. Có hai tình trạng mà doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán được xem là kiệt quệ tài chính đó là: doanh nghiệp mất khả năng thanh toán đối với các khoản nợ đến hạn và doanh nghiệp nộp đơn xin phá sản (theo Jones và Hensher, 2004).1 Kiệt quệ tài chính khi doanh nghiệp mất khả năng thanh khoản Altman và Hotchkiss (2006) cho rằng mất khả năng thanh khoản là trạng thái thường được sử dụng cho trường hợp doanh nghiệp phải đối mặt với những khó khăn về tài chính, bao gồm các vấn đề về tính thanh khoản và hiệu quả hoạt động công ty. Còn theo Keating cùng cộng sự (2005) thì doanh nghiệp mất khả năng thanh khoản khi doanh nghiệp có thu nhập hoạt động âm và hiện giá dòng tiền của doanh nghiệp ít hơn tồng giá 6 trị của các nghĩa vụ tài chính. Shra và Hicckman (1993) đã xác định một doanh nghiệp rơi vào tình trạng mất khả năng thanh khoản là khi doanh nghiệp không đủ khả năng để hoàn thành các nghĩa vụ tài chính bao gồm các khoản nợ đối với người lao động, nhà cung cấp và chủ nợ.
Whitaker (1999) cho rằng một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính khi năm đầu tiên dòng tiền của doanh nghiệp thấp hơn khoản nợ dài hạn đã đến hạn. Pindado và các cộng sự (2008) đưa ra dấu hiệu thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) nhó hơn chi phí lãi vay trên khoản nợ của doanh nghiệp cho thấy doanh nghiệp không thể tạo ra thu nhập từ hoạt động kinh doanh để đáp ứng đủ cho việc chi trả các nghĩa vụ tài chính của mình. Nghiên cứu của Pindado và các cộng sự (2008) còn chỉ ra rằng thị trường bao gồm các nhà đầu tư nắm giữ cổ phần của doanh nghiệp sẽ điều chỉnh giảm giá trị doanh nghiệp do hoạt động kinh doanh thua lỗ cho đến khi tình hình tài chính của doanh nghiệp được cài thiện trở lại. Do đó, một sự sụt giảm giá trị thị trường trong hai năm liên tiếp cũng là một dấu hiệu của kiệt quệ tài chính.
Theo Andrade và Kaplan (1997), một doanh nghiệp kiệt quệ tài chính khi năm đầu tiên mà EBITDA của doanh nghiệp thấp hơn chi phí tài chính. Một số nghiên cứu khác cho kết quà tương tự như: thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) thấp hơn chi phí tài chính (chi phí lãi vay) trong hai năm liên tiếp; trong bất kỳ vào một năm nào doanh nghiệp có EBITDA thấp hơn 80% chi phí lãi vay (Asquith và cộng sự, 1994); tỷ số đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp (được định nghĩa là tổng nợ phải trả chia tổng tài sản) cao hơn một trong hai năm liên tiếp; thu nhập trước thuế, lãi vay (EBIT) thấp hơn chi phí lãi vay trong hai năm liên tiếp (Joseph và cộng sự, 2013); doanh nghiệp có thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) thấp hơn chi phí tài chính trong hai năm liên tiếp; có sự sụt giảm trong giá trị thị trường trong hai nãm liên tiếp (Mario Hernandez Tinoco và Nick Wilson, 2013). Như vậy, từ các quan điếm nêu trên, kiệt quệ tài chính xảy ra khi doanh nghiệp mất khả năng thanh khoản thể hiện ờ các dấu hiệu sau: - Doanh nghiệp có thu nhập trước thuế, lãi vay và khấu hao (EBITDA) thấp hơn chi phí 7 tài chính trong hai năm liên tiếp. - Giá trị thị trường cùa doanh nghiệp sụt giảm trong hai năm liên tiếp.2 Kiệt quệ tài chính khi doanh nghiệp vỡ nợ hoặc phá sản Hiện tại, phá sản là một trong những khái niệm phổ biến nhất được dùng để chỉ những doanh nghiệp rơi vào trạng thái kiệt quệ tài chính.
Hầu hết các nghiên cứu trước đây về kiệt quệ tài chính đều tập trung vào các doanh nghiệp đã đệ đơn phá sản (Beaver, 1966, 1968; Altman và cộng sự, 1977; Ohlson, 1980). Tình hình mất khả năng thanh toán ngày càng nghiêm trọng và không được giái quyết, doanh nghiệp có thể bước vào giai đoạn vỡ nợ hoặc phá sản. Trong giai đoạn này, doanh nghiệp thường xuyên thua lỗ trong hoạt động kinh doanh, thiếu hụt tiền mặt gia tăng và vi phạm hợp đồng tín dụng trờ thành vấn đề kinh niên, khi đó doanh nghiệp phải đối diện với khả năng vỡ nợ, đây có thể là lý do dẫn đến việc doanh nghiệp phải đệ trình đơn xin phá sản lên tòa án (Altman và Hotchkiss, 2005). Foster (1986) cho rằng nộp đơn xin phá sản là dấu hiệu cho biết doanh nghiệp đó đang bị kiệt quệ tài chính.
Bruwer và Hamman (2006) cũng xác định một doanh nghiệp lâm vào tình trạng kiệt quệ tài chính khi nộp đơn xin phá sản hoặc hủy niêm yết hoặc tái cấu trúc toàn diện bộ máy tồ chức. Tương tự, quan điểm của Christidis và Gregory (2010) là doanh nghiệp lâm vào trạng thái kiệt quệ tài chính khi doanh nghiệp nộp đơn xin phá sản; doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản tự nguyện hay bắt buộc theo luật định; doanh nghiệp bị đình chỉ niêm yết trong ba năm; doanh nghiệp được một tổ chức khác tiếp nhận lại về mặt quản lý hoặc sỡ hữu. Như vậy, từ các quan điểm nêu trên, kiệt quệ tài chính xảy ra khi doanh nghiệp vỡ nợ (phá sản) thể hiện ở các dấu hiệu sau: - Doanh nghiệp bị đình chỉ niêm yết trong ba năm. - Doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản tự nguyện hay bắt buộc theo luật định.
- Doanh nghiệp được một tổ chức khác tiếp nhận lại về mặt quản lý hoặc sở hữu. Như vậy, kiệt quệ tài chính là quá trình thay đổi linh hoạt các trạng thái khác nhau từ việc 8 doanh nghiệp dần bị mất khả năng thanh khoản cho đến phá sản theo mức độ nghiêm trọng dần. Trong bài nghiên cứu này, tác giả phân loại một công ty có rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính hay không dựa vào nghiên cứu của Pindado cùng cộng sự (2008). Tuy nhiên, khi tác giả xem xét mẫu nghiên cứu là các công ty phi tài chính ở Việt Nam, thì điều kiện tương tự như nghiên cứu của Pindado cùng công sự (2008) có rất ít công ty rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính.
Trong khi đó, Andrade và Kaplan (1998) trong nghiên cứu: “How costly is financial not economic distress? Evidence from highly leveraged transactions that became distressed? đã xác định một doanh nghiệp rơi vào tình trạng kiệt quệ tài chính ngay tại năm đầu tiên khi mà EBITDA thấp hơn chi phí tài chính. Nghiên cứu của Whitaker (1999), “The early stages of financial distress”, cũng định nghĩa một doanh nghiệp rơi vào trạng thái kiệt quệ tài chính ngay tại năm đầu tiên mà dòng tiền doanh nghiệp tạo ra không đủ để đáo hạn các khoản nợ dài hạn. Điều này cho thấy cần có một sự linh động trong việc xác định dấu hiệu tình trạng kiệt quệ tài chính của một doanh nghiệp. Chính vì vậy, tác giả phân loại một công ty được cho là kiệt quệ tài chính khi đáp ứng một trong hai điều kiện sau: - Bất cứ khi nào EBITDA của công ty thấp hơn chi phí lãi vay ngay tại năm quan sát.
- Bất cứ khi nào công ty phải chịu một sự tăng trưởng âm (lợi nhuận âm) trong giá trị thị trường trong hai năm liên tiếp.2 Quan điểm quản trị công ty Quản trị công ty (QTCT) là một loạt các mối quan hệ giữa ban giám đốc, hội đồng quản trị (HĐQT), cổ đông và các bên có quyền lợi liên quan tạo nên một khung hướng dẫn quản lý và kiểm soát tốt, thúc đẩy gia tăng giá trị của công ty, đồng thời góp phần vào việc tăng trưởng đầu tư và phát triển bền vững. QTCT là cơ chế, quá trình tác động của cổ đông tới hoạt động của toàn công ty nhằm đảm bảo lợi ích của các cổ đông và xã hội. Hiểu một cách rộng hơn, thì QTCT phát triển đến bảo vệ quyền lợi của những người liên quan bao gồm nhân viên, khách hàng, nhà cung cấp, môi trường và các cơ quan nhà nước.