CHƯƠNG 1 Nghiên cứu này nhằm khám phá các phong cách lãnh đạo ảnh hưởng tới sự gắn kết của nhân viên trong công việc Trong chương này, tác giả trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu, phương pháp và phạm vi tiến hành nghiên cứu cũng như ý nghĩa và đóng góp của của nghiên cứu này. 8 CHƯƠNG 2 Cơ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN cứu 2.1 Lỷ thuyết trao đổi xã hội Lý thuyết trao đổi xã hội - một lý thuyết nổi tiếng trong các lĩnh vực khác nhau như quản lý, xã hội học, tâm lý học xã hội và nhân học được giới thiệu vào năm 1958 bởi Homans (Homans, 1958) và được làm rõ hơn trong các nghiên cứu khác Blau (2017); Cropanzano và cộng sự (2017). Nó được giải thích là sự tương tác giữa hai hoặc nhiều bên và cách các cá nhân tạo ra các mối quan hệ dựa trên việc trao đổi những giá trị hữu hình và vô hình. Lúc đầu, thuyết này chỉ được sử dụng để giải thích các hành vi của con người (Homans, 1958), sau đó được Blau (2017); Cropanzano và cộng sự (2017) dùng để giải thích hành vi tổ chức.
Theo lý thuyết này, khi mọi người làm việc trong cùng một nhóm, họ chấp nhận quy tắc có qua có lại (Cropanzano và cộng sự, 2017). Trong quá trình giao dịch, phải có sự cân bằng về mặt lợi ích giữa các bên, nghĩa là nếu một bên đem đến cho bên kia một lợi ích thì bên nhận cần phải có trách nhiệm đem lại lợi ích tương xứng cho bên đã đem đến lợi ích cho mình. Có hai nhóm lợi ích: lợi ích kinh tế (tiền tệ, hàng hóa, thông tin) hoặc Lợi ích xã hội (cảm xúc, ảnh hưởng xã hội)(Muthusamy và White, 2005). Lý thuyết này cũng đề cập đến vấn đề, khi nhận được sự hỗ trợ của tổ chức, lãnh đạo và đồng nghiệp, người lao động nghĩ rằng, họ cần phải cống hiến nhiều hơn cho tổ chức cũng như muốn gắn kết lâu dài hơn với tổ chức.
Với nhận định về ảnh hưởng của lãnh đạo trong tổ chức đến sự gắn kết của người lao động với công việc, có thể nói lý thuyết trao đổi xã hội hoàn toàn phù hợp để làm nền tảng cho nghiên cứu này của tác giả về ảnh hưởng của phong cách lãnh đạo đến sự gắn kết công việc của nhân viên.2 Mô hình yêu cầu - nguồn lực trong công việc (mô hình JDR) Lý thuyết JDR, Bakker và cộng sự (2007); Demerouti và Bakker (2011); Koveshnikov và cộng sự (2020) cho rằng trong mọi nghề nghiệp đều có các yếu tố 9 liên quan đến công việc, có thể được phân loại là nhu cầu công việc hoặc nguồn lực công việc đều có ý nghĩa đối vói gắn kết trong công việc. Nguyên tắc đề cập đến các khía cạnh thể chất, tâm lý, xã hội hoặc tổ chức của công việc đòi hỏi sự nỗ lực hoặc kỹ năng về thể chất hoặc tâm lý để giải quyết công việc, nó có thể ảnh hưởng tiêu cực hoặc tích cực đến sự gắn bó của nhân viên trong công việc. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào yếu tố nguồn lực trong công việc, là các khía cạnh về thể chất, tâm lý, xã hội hoặc tổ chức của công việc có chức năng đạt được các mục tiêu công việc. Nguồn lực công việc có vai trò tạo động lực cho nhân viên với những tác động tích cực có thể xảy ra đối với sự sự gắn kết của nhân viên vào công việc.
Nguồn lực công việc bao gồm các nguồn lực bên trong và các nguồn lực bên ngoài. Nguồn lực công việc từ bên ngoài là công cụ giúp nhân viên đạt được mục tiêu công việc của họ hoặc các nguồn lực công việc từ bên trong giúp thúc đẩy sự phát triển, học hỏi và phát triển của nhân viên. Nguồn lực bên ngoài được đề cập tại nghiên cứu này là Sự kiểm soát. Kiểm soát công việc đã được chứng mình là một nguồn lực công việc thúc đẩy từ bên ngoài bởi sự hỗ trợ xã hội và phản hồi từ người giám sát (Bakker và Demerouti, 2007; Schreurs và cộng sự, 2010).Nó đã được chứng minh là làm giảm sự căng thẳng trong công việc của nhân viên (J.
Schaubroeck và Merritt, 1997) và tăng hiệu suất làm việc của họ (J. Schaubroeck và Fink, 1998). Nguồn lực bên trong được đề cập tại nghiên cứu này là Sự hiệu qảu và lòng tự trọng. Sự hiệu quả và lòng tự trọng về bản chất là động lực thúc đẩy nguồn lực công việc cá nhân gắn liền với sự tăng trưởng và phát triển của nhân viên, đồng thời ảnh hưởng tích cực đến hiệu suất của nhân viên (Luchman và Gonzalez-Morales, 2013; Schreurs và cộng sự, 2010) và sự gắn kết của nhân viên với công việc (Simbula và cộng sự, 2011; Xanthopoulou và cộng sự, 2009).
Với tầm quan trọng của ba nguồn lực công việc nêu trên đối với kết quả liên quan đến công việc của nhân viên, trong nghiên cứu này tác giả đưa ra lý thuyết và xem 10 xét các tác động trung gian (kiểm soát công việc, hiệu quả và lòng tự trọng) là ba nguồn lực công việc mà các nhà lãnh đạo cung cấp cho cấp dưới của mình.2 Một số khái niệm cơ bản niệm 2.1 Sự gắn kết của nhân viên (Employee Engagement) Thông qua các nghiên cứu trước đó, khái niệm về sự gắn của nhân viên có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể: Theo Mowday và cộng sự (2013): Sự gắn kết thể hiện sức mạnh của sự kết nối và gắn bó một cách tương đối của cá nhân với một tổ chức nào đó. Có 3 đặc điểm: Niềm tin, nguyện vọng và lòng nhiệt huyết. Theo Peeters và Meijer (1995); Gallie và White (1993) sự gắn kết có 2 loại: Gắn kết theo tổ chức là sự chấp nhận những giá trị của tổ chức cũng như sẵn sàng gắn bó với tổ chức đó. Gắn kết theo nhiệm vụ là từng cá nhân nổ lực với công việc của họ.
Từ đó, chúng ta thấy sự gắn kết là sự kết hợp giữa sự trung thành và sự gắn bó của một cá nhân với một tổ chức nào đó mà họ đó đang tham gia (Gallie và White, 1993). Đồng quan điểm trên, Mowday và cộng sự (2013); Peeters và Meijer (1995) cũng đề cập đến khái niệm “Sự gắn kết với tổ chức là sự chấp nhận những giá trị, mục tiêu của tổ chức” Louzao và Casal (1986) xác định khái niệm của sự gắn kết với tổ chức của nhân viên là "một sự gắn bó tích cực từ các cá nhân liên quan đến tổ chức của họ, dựa trên thái độ phản ánh niềm tin, chấp nhận mục tiêu, nỗ lực hoặc mong muốn tiếp tục, và hành vi rõ ràng và không thể thu hồi". Theo quan điểm này, cam kết của tổ chức được coi là một trạng thái rộng hơn là lòng trung thành thụ động, nghĩa là một mối quan hệ tích cực, nơi các cá nhân có xu hướng đóng góp một cái gì đó vào sự an toàn của tổ chức. 11 Ở một góc độ khác, Allen và Meyer (1990) đã định nghĩa về sự gắn kết của nhân viên với tổ chức là trạng thái tâm lý biểu hiện mối quan hệ của nhân viên đối với tổ chức, quyết định việc duy trì của nhân viên đối với tổ chức.
Từ định nghĩa này đã cho thấy gắn kết tổ chức bản chất có nhiều mặt, như là: Cam kết gắn bó cảm xúc (affective commitment): gắn bó xuất phát từ tình cảm, cảm xúc tích cực của người nhân viên đối với tổ chức. Cam kết gắn bó do bắt buộc (continuance commitment): sự gắn bó do nhân viên nhận thấy chi phí chi phí cơ hội cao khi phải rời bỏ tổ chức. Cam két gắn bó quy chuẩn (normative commitment) đề cập đến việc cá nhân ở lại tổ chức vì cảm thấy phải có nghĩa vụ đạo đức với tổ chức đó. Họ cảm thấy có trách nhiệm phải ở lại làm việc cho tổ chức.
Trong 3 yếu tố trên thì yếu tố gắn bó xuất phát từ cảm xúc được xem là thước đo quan trọng của gắn kết với tổ chức. Đến năm 1997, Allen và Meyer tiếp tục củng cố thêm quan điểm của mình về tầm quan trọng của gắn kết cảm xúc khi giải thích rằng so với những người lao động khác, những người gắn két với tổ chức bằng cảm xúc mạnh mẽ sẽ có nhiều đóng góp có ý nghĩa hơn cũng như có động cơ cao hơn để làm việc (Meyer và Allen, 1997). Cũng liên quan đến gắn bó cảm xúc, Dunham và cộng sự (1994) cũng chỉ ra rằng người lao động khi được phép tham gia vào việc ra quyết định, họ sẽ có mức độ gắn kết xuất phát từ cảm xúc mạnh mẽ hơn. Nghiên cứu của Cohen (1996) đã khám phá ra mối liên hệ giữa ba yếu tố thành phần của sự gắn kết với các yếu tố khác: sự lôi cuốn của việc làm (Work involvement), sự lôi cuốn trong công việc (Job involvement) và sự cam kết gắn bó với nghề nghiệp (Career commitment).
Cũng như phong cách lãnh đạo thì sự gắn kết của nhân viên cũng là một chủ đề được nghiên cứu rộng rãi. Nó có mối liên hệ rất lớn đến động lực làm việc cũng như hành vi tạo ra động lực. Vì vậy, sự gắn kết của nhân viên là một khái niệm rất quan trọng đối với các tổ chức bởi nó có thể tác động tích cực đến két quả hoạt động của 12 tổ chức (Christian và cộng sự, 2011). Sự gắn kết của nhân viên trong công việc là một trạng thái tâm lý tích cực liên quan đến công việc và được biểu hiện bởi những đặc đặc trưng: nghị lực, cống hiến và sự say mê (Schaufeli, Salanova, và cộng sự, 2002).
Những nhân viên gắn kết trong công việc luôn có mức năng lượng cao và nhiệt tình vói công việc so với những nhân viên khác. Hơn thế, họ thường say đắm vào công việc của mình mà không để ý đến thời gian (May, 2004) Tóm lại theo Schaufeli, Salanova và cộng sự (2002); Soane và cộng sự (2012), sự gắn kết của nhân viên trong công việc thể hiện thông qua sự say mê trong công việc đến nổi quên đi mọi thứ khác, đặt hết tâm huyết vào công việc mà không bị chi phối bởi các yếu tốt về cảm xúc; nó còn thể hiện thông qua nhân viên dành toàn bộ năng lượng, sự tập trung của mình để hoàn thành công việc và sẽ hoàn thành công việc trước khi ra về.2 Sự gắn kết của nhân viên trong công việc (Employee work's Engagement) Dựa trên khái niệm được sử dụng rộng rãi nhất về sự gắn kết trong công việc (Schaufeli và Bakker, 2010), nó được đặc trưng bởi sự mãnh liệt, cống hiến và say mê (Schaufeli và Bakker, 2004).