Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU. Giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Nêu tổng quan về nghiên cứu, lý do hình thành đề tài, trình bày mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa thực tiễn và bố cục của luận văn. Chương 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Đây là chương đưa ra những nền tảng lý thuyết liên quan đến hướng nghiên cứu trong đề tài, các mô hình nghiên cứu có liên quan đã nghiên cứu về vấn đề mà đề tài đang hướng tới và đưa ra mô hình nghiên cứu đề xuất và các giả thuyết đưa ra trong mô hình.
Chương 3: PHƯƠNG PHÁP VÀ THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU Chương này tập trung đến thiết kế nghiên cứu, xây dựng thang đo, chọn mẫu và phân tích dữ liệu cho mô hình nghiên cứu đề xuất Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU Chương này là tổng hợp các kết quả khảo sát, kiểm định các thang đo, mô hình và các giả thiết Chương 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ Chương này dựa trên những khảo sát và nghiên cứu trên để đưa ra kết luận cũng như những hàm ý quản lý nhằm nâng cao hiệu quả trao quyền cho nhân viên tại các Ngân hàng thuộc địa bàn thành phố Đà Lạt 6 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU Chương một đã trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, chương hai sẽ làm rõ các khái niệm lý thuyết, các nghiên cứu trước đây có liên quan và từ đó đề xuất mô hình nghiên cứu cùng các giả thuyết của mô hình 2.1 DỊCH VỤ VÀ CÁC ĐẶC ĐIỂM CỦA DỊCH VỤ: Dịch vụ là một hàng hóa đặc biệt, nó có những nét đặc trưng riêng mà hàng hóa hữu hình không có. Philip Kotler định nghĩa dịch vụ như sau: - Dịch vụ là một hoạt động hay lợi ích cung ứng nhằm để trao đổi, chủ yếu là vô hình và không dẫn đến chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện dịch vụ có thể gắn liền hoặc không gắn liền với sản phẩm vật chất. - Dịch vụ có một số đặc điểm nổi bật giúp ta phân biệt với các loại hàng hóa hữu hình khác, đó là: Tính vô hình: Đây là đặc điểm cơ bản của dịch vụ.
Với đặc điểm này cho thấy dịch vụ là vô hình, không tồn tại dưới dạng vật thể. Những kinh nghiệm về dịch vụ khách hàng thường bao gồm các chuỗi hoạt động. Mỗi hoạt động đại diện cho một vài tương tác giữa tổ chức cung cấp dịch vụ với khách hàng. Do đó về cơ bản sản phẩm dịch vụ là việc thực hiện, nó trái ngược với sản phẩm vật lý vốn hữu hình.
Tính không thể tách rời: Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Quá trình sản xuất và tiêu thụ diễn ra đồng thời. Một dịch vụ không thể tách thành hai giai đoạn: giai đoạn tạo thành và giai đoạn sử dụng nó. Dịch vụ và hàng hóa không giống nhau.
Hàng hóa được sản xuất, đưa vào kho, bán và sử dụng. Còn dịch vụ tạo ra và được sử dụng trong suốt quá trình tạo dịch vụ đó. Và dịch vụ này không thể xảy ra mà không có sự hiện diện của khách hàng. Nói một cách khác khách hàng là một thành viên trong quá trình tạo ra dịch vụ.
Tính không đồng nhất: Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hóa được. Trước hết do hoạt động cung ứng. Các nhân viên cung cấp dịch vụ không thể tạo ra được dịch vụ như nhau trong những khoảng thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng là những người quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ.
7 Trong những thời gian khác nhau sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác nhau cũng có sự cảm nhận khác nhau. Sản phẩm dịch vụ sẽ có giá trị cao khi thỏa mãn nhu cầu riêng biệt của khách hàng. Như vậy trong cung cấp dịch vụ thường thực hiện cá nhân hóa, thoát ly khỏi những quy chế. Điều đó càng làm tảng thêm sự khác biệt giữa chúng.
Đặc điểm này làm cho việc chuẩn hóa dịch vụ trở nên khó thực hiện. Tính chất không thể tồn trữ: Dịch vụ không thể tồn kho, không cất giữ và không thể vận chuyển từ nơi này đến nơi khác. Dịch vụ có tính không thể tồn trữ như vậy nên việc sản xuất mua bán và tiêu dùng dịch vụ bị giới hạn bởi thời gian. Đặc tính không thể tồn trữ của dịch vụ quy định sản xuất và tiêu dùng dịch vụ phải đồng thời, trực tiếp, trong một thời gian giới hạn.
Để giảm ảnh hưởng của tính chất không tồn trữ của dịch vụ, người ta cố gắng bán dịch vụ ở mức cao nhất của nó. Chọn lựa điểm phục vụ bị ràng buộc qua khách hàng: Do khách hàng là một thành viên trong quá trình cung cấp dịch vụ. Khách hàng và nhân viên phải gặp nhau để một dịch vụ có thể thực hiện được, do vậy điểm kinh doanh phải đặt ở nơi gần khách hàng.2 VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN TRONG TỔ CHỨC Vai trò của nhân viên trong tổ chức dịch vụ tương đương với vai trò của dịch vụ đó, như là chỉ ra bởi Zeithaml (2006), nhân viên dịch vụ vừa là nhân viên cung cấp dịch vụ và vừa là thương hiệu của tổ chức. Tầm quan trọng của họ trong công ty là cung cấp dịch vụ và sản xuất dịch vụ.
Trong các dịch vụ đó, họ là người tiếp xúc trực tiếp với khách hàng. Những gì họ thể hiện là những gì mà khách hàng thấy và khách hàng sử dụng để đánh giá chất lượng theo kinh nghiệm sử dụng dịch vụ. - Nhân viên của tổ chức trong mắt của khách hàng: nhân viên là hiện thân của công ty ngay cả khi họ không thực hiện toàn bộ dịch vụ, họ đại diện cho công ty khi giao dịch với khách hàng, họ chuyên nghiệp hoặc không chuyên nghiệp ảnh hưởng đến hành vi nhận thức của khách hàng về danh tiếng của công ty. - Họ là những thương hiệu: khách hàng đã có những hình ảnh về công ty khi họ giao dịch với các nhân viên công ty.
Nhân viên là một trong những thành phần tạo nên thương hiệu của công ty. 8 - Họ là những nhà tiếp thị: do đặc điểm vô hình của dịch vụ, tiếp thị, sản xuất, và tiêu thụ đồng thời, kể từ khi các nhân viên là những đại diện của công ty, thái độ, hành vi và chức năng có thể trực tiếp ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng. Cho dù thừa nhận hay không, dù chủ động bán hay không nhân viên phục vụ cũng thực hiện chức năng tiếp thị. Điều này thể hiện rằng nhân viên cũng có trách nhiệm tiếp thị dịch vụ của công ty trong khi cung cấp các dịch vụ cho khách hàng.3 TRAO QUYỀN CHO NHÂN VIÊN: Theo Honold (1997), các tài liệu cho thấy có rất nhiều khái niệm và định nghĩa về cấu trúc trao quyền.
Hầu hết các định nghĩa đều đồng ý rằng trao quyền liên quan đến việc cung cấp thao tác theo ý mình và trao quyền nhiều hơn cho người lao động. Do đó, Geralis và Terziovski (2003) xác định trao quyền cho nhân viên là một kỹ thuật quản lý nhân sự (HRM), trong đó bao gồm chuyển giao quyền lực và sự kiểm soát từ các nhân viên cấp cao hơn cho người lao động cấp thấp hơn trong một tổ chức. Ngoài ra, Looy et al. (2003) xác định trao quyền như cung cấp đủ quyền tự chủ cho các nhân viên trong lĩnh vực dịch vụ và cho phép họ xử lý và giải quyết được các vấn đề khiếu nại không lường trước.
Các kỹ thuật trao quyền cho nhân viên: Khuyến khích nhân viên Để cho nhân viên tự ra quyết định Xây dựng đội nhóm và nhóm chất lượng Mười nguyên tắc trong quản lý trao quyền: 1. Đánh giá cao nhân viên. Chia sẻ tầm nhìn. Chia sẻ mục tiêu và các đường lối.
Tin tưởng nhân viên. Cung cấp đủ thông tin để nhân viên ra quyết định. Giao quyền bên cạnh trách nhiệm. Thường xuyên đưa ra phản hồi.
Cùng nhân viên giải quyết vấn đề. Lắng nghe để học hỏi và đặt câu hỏi để đưa ra sự hướng dẫn. Công nhận và khen thưởng thỏa đáng.4 CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ: Hartline và Ferrell (1996), Zeithaml và Parasuraman (2004), Gupta và Zeithaml (2006) xác định chất lượng dịch vụ như là một sự khác biệt giữa kỳ vọng của khách hàng và nhận thức của họ về dịch vụ. Do nhận thức hơn về tác động cạnh tranh và kinh tế của dịch vụ khách hàng, nhiều công ty đã xác định cách khác nhau để nâng cao chất lượng dịch vụ của họ.
Do đó, trao quyền cho lực lượng lao động cũng được đề nghị như một chiến lược cho việc cải thiện chất lượng dịch vụ (Goodale et al. Zeithaml et al. (2006) lập luận rằng chất lượng dịch vụ là nhận thức của khách hàng về dịch vụ và là một yếu tố quyết định quan trọng của sự hài lòng của khách hàng. Hơn nữa, sự hài lòng của khách hàng hay không hài lòng là một biện pháp hay cách thức đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu hay kỳ vọng của khách hàng về một dịch vụ.5 SỰ HÀI LÒNG KHÁCH HÀNG Oliver (1997) và Gupta và Zeithaml (2006) xác định sự hài lòng của khách hàng là một sự bác bỏ của sự mong đợi.
Quan điểm này cho rằng khách hàng so sánh những gì họ nhận được với tiêu chuẩn trước khi tiêu thụ hoặc kỳ vọng. Rust và Oliver (1994), Olorunniwo et al. (2006) xác định sự hài lòng của khách hàng là phản ứng tích cực của khách hàng liên quan đến việc thực hiện các nhu cầu của họ. Đây là đánh giá cũng như cảm xúc dựa trên phản ứng đối với các dịch vụ.
Hơn nữa, sự hài lòng của khách hàng được coi là một chỉ số niềm tin và có thể mang lại cảm giác tích cực cho việc sử dụng dịch vụ của khách hàng. Ngoài ra, sự hài lòng và lòng trung thành của khách hàng góp phần lan truyền thông tin tốt và giới thiệu dịch vụ cho nhiều người khác, mang lại kết quả trong việc thúc đẩy các sản phẩm hoặc dịch vụ của công ty (Zeithaml và Bitner, 1996; Olorunniwo và cộng sự, 2006).6 MỐI QUAN HỆ GIỮA TRAO QUYỀN CHO NHÂN VIÊN, CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ VÀ SỰ HÀI LÒNG CỦA KHÁCH HÀNG Schlesinger và Heskett (1991) và Geralis và Terziovski (2003) nghiên cứu các mối quan hệ giữa trao quyền cho nhân viên và chất lượng dịch vụ và thấy rằng 10 cả hai đều liên quan trực tiếp và tích cực với nhau bởi vì nhân viên có động lực hơn có thể cung cấp dịch vụ tốt hơn.