chương 1, các vấn đề liên quan đến tổng quan về đề tài nghiên cứu được giới thiệu một cách khái quát. Chương 2 sẽ trình bày các khái niệm và các học thuyết nền tảng có liên quan đến quan đến đề tài nghiên cứu đồng thời khái quát các nghiên cứu trong và ngoài nước từ đó thiết lập các giả thuyết nghiên cứu. Chương này bao gồm các phần: 2. Các khái niệm cơ bản; 2.
Cơ sở lý luận về ý định nghỉ việc; 2. Các công trình nghiên cứu có liên quan; 2. Các khái niệm và mô hình nghiên cứu đề xuất. Các khái niệm cơ bản 2.
Khái niệm nguồn nhân lực Hiện nay, có rất nhiều quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực: Nguồn nhân lực là nguồn lực con người có khả năng sáng tạo ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội được biểu hiện ra là số lượng và chất lượng nhất định tại một thời điểm nhất định (Trần Xuân Cầu, Mai Quốc Chánh, 2008). Nguồn nhân lực là tổng thể các yếu tố bên trong và bên ngoài của mỗi cá nhân bảo đảm nguồn sáng tạo cùng các nội dung khác cho sự thành công, đạt được mục tiêu chung của tổ chức (George và John, 1997). Nguồn nhân lực còn được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn mà con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai (Beng, Fischer và Dornhusch, 1995). Khi nói đến nguồn nhân lực, người ta bàn đến trình độ, cơ cấu, sự đáp ứng với yêu cầu của thị trường lao động.
Chất lượng nguồn nhân lực phản ảnh trong trình độ kiến thức, kỹ năng và thái độ của người lao động. Như vậy, với góc độ vi mô trong tổ chức, nguồn nhân lực chính là nguồn lực con người, bao gồm thể lực, trí lực được thể hiện thông qua năng lực làm việc, cùng 7 hướng đến mục tiêu chung của tổ chức. Nguồn nhân lực khác với các nguồn lực khác của doanh nghiệp do chính bản chất của con người (Trần Kim Dung, 2015) 2. Khái niệm sự thỏa mãn trong công việc Sự thỏa mãn công việc của nhân viên phụ thuộc vào cảm xúc hay tình cảm mà người đó dành cho công việc của mình, điều đó phản ánh mức độ yêu thích của người nhân viên đối với công việc (Price and Mueller, 1981a).
Spector (1997) thưc hiện một nghiên cứu và ông đưa ra kết luận rằng: sự thỏa mãn công việc chính là việc nhân viên cảm thấy yêu thích công việc của mình và các khía cạnh khác nhau có liên quan, yếu tố này phụ thuộc chung vào sự đánh giá của nhân viên nên chỉ được xem như là một biến thái độ bởi lúc này công việc như một phần trong cuộc sống mỗi nhân viên. Sự thỏa mãn trong công việc liên quan chặt chẽ với các yếu tố trong các hoạt động quản lý nguồn nhân lực như lương cao và cơ hội việc làm cũng như vai trò căng thẳng. Các yếu tố khác như phong cách lãnh đạo, cam kết công việc, trình độ học vấn cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ thỏa mãn trong công việc (Coomber & Barriball, 2007). Thêm vào đó, Trần Kim Dung (2005) cũng cho rằng các tổ chức sẽ có được sự gắn kết của nhân viên bằng cách làm cho họ thỏa mãn các nhu cầu khía cạnh liên quan đến công việc như: công việc, thăng tiến, đồng nghiệp, phúc lợi và điều kiện làm việc.
Mỗi một yếu tố sẽ tác động đến sự hài lòng trong công việc của nhân viên theo cách khác nhau. Sự thỏa mãn trong công việc của nhân viên là một trong những yếu tố quan tâm hàng đầu của nhà quản trị nhân sự. Nhân viên thỏa mãn trong công việc thì họ sẽ có xu hướng gắn kết với tổ chức, làm việc tích cực hơn, giảm bớt các khiếu nại, sự vắng mặt, làm việc đúng giờ giấc, đóng góp nhiều hơn cho tổ chức, cống hiến nhiều hơn và sẽ mang lại năng suất cao trong công việc, gia tăng kết quả kinh doanh. Có thể nói, sự hài lòng trong công việc được xác định bởi thái độ của một người đối với công việc của họ.
Khái niệm về nghỉ việc: Nghỉ việc là việc người lao động rời bỏ môi trường làm việc hiện tại để đến với một môi trường làm việc khác hay nói cách khác là họ từ bỏ công việc hiện tại để chuyển sang làm việc tại một doanh nghiệp khác và sự dịch chuyển này có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả các hoạt động của một tổ chức (Lashley, 2000). Khi người lao động rời bỏ tổ chức thường kéo theo những thiệt hại vô cùng lớn cho doanh nghiệp bao gồm các chi phí liên quan đến việc tuyển nhân sự mới như chi phí quảng cáo tuyển dụng mới, huấn luyện đào tạo nhân viên mới, công việc bị trì trệ dẫn đến hiệu quả hoạt động của công ty bị giảm sút, năng lực cạnh tranh kém khó tìm được những cơ hội mới để phát triển (Tracey & Hinkin, 2008) Có hai loại nghỉ việc, không tự nguyện và tự nguyện (Price & Mueller, 1986). Nghỉ việc không tự nguyện là khi một người bị loại bỏ khỏi công việc của mình bởi người sử dụng lao động. Nghỉ việc tự nguyện là khi nhân viên chủ động chọn nghỉ việc.
Một định nghĩa tương tự về sự nghỉ việc của người lao động trong tổ chức được đưa ra bởi Shaw và cộng sự (1998) “Nghỉ việc tự nguyện hay sự rời bỏ một tổ chức phản ánh quyết định của người lao động, trong khi đó nghỉ việc bắt buộc hoặc bị sa thải phản ánh quyết định của người chủ lao động khi muốn chấm dứt sự hợp tác giữa người lao động với tổ chức”. Nghiên cứu này được xem xét dưới dạng nghỉ việc tự nguyện của nhân viên. Nghỉ việc tự nguyện có xu hướng có hại hơn cho tổ chức và xảy ra thường xuyên hơn là không tự nguyện (Lambert & Hogan, 2009) 2. Khái niệm về ý định nghỉ việc Ý định nghỉ việc là ý định muốn rời khỏi nơi làm việc hiện tại để đến một nơi làm việc khác, xuất phát từ nhận thức chủ quan của người lao động.
Ý định nghỉ việc là giai đoạn nhận thức cuối cùng trong quá trình dẫn đến hành động nghỉ việc thực tế và là yếu tố then chốt mang tính quyết định việc ra đi hay ở lại của người lao động đối với tổ chức (Masri, 2009). 9 Khi một nhân viên nghỉ việc, hiệu quả công việc của các nhân viên còn lại của tổ chức sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Họ phải gánh vác cả phần việc của những người đã rời bỏ tổ chức, dó đó họ bị quá tải, dẫn đến sự hài lòng trong công việc bị giảm sút. Điều này sẽ tác động làm cho những người ở lại cũng muốn ra đi nếu doanh nghiệp không có những biện pháp kịp thời.
Như vậy khi nhân viên nghỉ việc, doanh nghiệp phải đối đầu với rất nhiều những nguy cơ. Ý định nghỉ việc là dự định của người lao động có trước khi chính thức thôi việc. Ý định này bao gồm sự sẵn sàng, khả năng và lập kế hoạch cho việc rời bỏ tổ chức. Mặc dù ý định nghỉ việc không phải là hành vi thực sự nhưng thông qua nghiên cứu về ý định nghỉ việc, các nhà quản trị có thể hiểu và dự báo về hành vi nghỉ việc thực sự để sắp xếp cho nhân sự rời bỏ tổ chức, hoặc phân bổ lại nhân sự.
Cơ sở lý luận về ý định nghỉ việc 2. Học thuyết cân bằng tổ chức Học thuyết cân bằng tổ chức được March và Simon công bố chính thức vào năm 1958. Lý thuyết về cân bằng tổ chức nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cân bằng sự đóng góp của nhân viên và sự khích lệ đối với họ. Học thuyết chỉ ra mối liên kết chặt chẽ giữa ý định về nghỉ việc với sự hài lòng công việc và cho rằng những cá nhân hài lòng hơn với công việc hiện tại của họ sẽ gia tăng mong muốn gắn bó với các tổ chức của họ.
March and Simon (1958) chỉ ra rằng, miễn là tổ chức trả lương cho một cá nhân phù hợp, cá nhân sẽ vẫn là thành viên của tổ chức. Do đó, cả cá nhân và tổ chức đều cố gắng duy trì trạng thái cân bằng giữa những sự khích lệ và những gì mà cá nhân đóng góp. Học thuyết cân bằng tổ chức thường được nói đến là là sự hài lòng công việc và các lựa chọn thay thế được nhận thức ở thị trường bên ngoài. Cả hai yếu tố độc lập hoạt động để ảnh hưởng đến động lực của nhân viên để ở lại hoặc rời khỏi tổ chức.
Theo March and Simon (1958), khi nhu cầu công việc của cá nhân phù hợp hơn với bất kỳ trách nhiệm công việc bổ sung mà họ có thể thực hiện, sự hài lòng 10 công việc của nhân viên có thể tăng lên và họ có nhiều khả năng ở lại với tổ chức hơn. Học thuyết hai nhân tố của F. Herzberg Herzberg chia các nhu cầu của con người theo 2 loại độc lập và có ảnh hưởng tới hành vi con người theo những cách khác nhau: khi con người cảnh thấy không thoả mãn với công việc của mình thì họ rất lo láng về môi trường họ đang làm việc, còn khi họ cảm thấy hài lòng về công việc thì họ tất quan tâm đến chính công việc. Ông đã phân thành 2 nhóm nhân tố: duy trì và động viên.
Nội dung của các nhân tố đó được mô tả theo bảng sau: Bảng 2.1: Học thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg Các nhân tố duy trì Các nhân tố động viên - Phương pháp giám sát - Sự thách thức của công việc - Hệ thống phân phối thu thập - Các cơ hội thăng tiến - Quan hệ với đồng nghiệp - Ý nghĩa của các thành tựu - Điều kiện làm việc - Sự nhận dạng khi công việc được thực - Chính sách của công ty hiện - Cuộc sống cá nhân - Ý nghĩa của các trách nhiệm. - Địa vị - Quan hệ qua lại giữa các cá nhân (Nguồn: www.vn) Herzberg chỉ ra rằng phía đối diện của sự thỏa mãn không phải là sự bất mãn, như chúng ta vẫn thường nghĩ. Loại bỏ các đặc điểm gây bất mãn khỏi công việc không nhất thiết là làm cho công việc đó tạo nên sự thỏa mãn. Herzberg có ý kiến đề xuất rằng những phát hiện của ông cho thấy sự tồn tại của một chuỗi liên tục đối ngẫu: vế đối diện của “Thỏa mãn” là “Không thỏa mãn” và vế đối diện của “Bất mãn” là “Không bất mãn.
11 Theo như Herzberg, các yếu tố dẫn đến sự thỏa mãn công việc là riêng rẽ và không liên quan gì đến các yếu tố dẫn đến sự bất mãn công việc.