Chương 1: Những tư tưởng cơ bản của Nho giáo ở Việt Nam 1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển Nho giáo ở Việt Nam 1. Tổng quan về sự hình thành và phát triển của Nho giáo Trung Hoa Nho giáo, còn được gọi là Khổng giáo, là một hệ thống đạo đức, triết lý và tôn giáo do Khổng Tử phát triển để xây dựng một xã hội thịnh trị. Nho giáo rất phát triển ở các nước châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên, và Việt Nam.
Những người thực hành theo các tín điều của Nho giáo được gọi là các nhà Nho. Cơ sở của Nho giáo được hình thành từ thời Tây Chu, đặc biệt với sự đóng góp của Chu Công Đán, còn gọi là Chu Công. Đến thời Xuân Thu, xã hội loạn lạc, Khổng Tử (sinh năm 551 trước công nguyên) phát triển tư tưởng của Chu Công, hệ thống hóa và tích cực truyền bá các tư tưởng đó. Chính vì thế mà người đời sau coi ông là người sáng lập ra Nho giáo.
Thời Tây Chu thực hành chế độ phân phong. Tất cả các nước chư hầu đều phải nghe theo mệnh lệnh của thiên tử. Chế độ thứ bậc như vậy nhằm duy trì trật tự chính trị của cả Trung Quốc thời đó. Song đến thời Xuân thu, chế độ này không còn giữ nguyên tính chất của nó, các chư hầu không nghe theo mệnh lệnh của thiên tử, thậm chí có chư hầu công khai đứng lên phản kháng triều đình nhà Chu.
Đây là thời đại mà sử gia phong kiến gọi là hung bạo, không hề có công lý hay chính nghĩa gì hết, là thời đại loạn thần tặc tử, băng hoại, hỗn loạn. Từ đó tạo nên một hiện tượng: Giai cấp quí tộc trở thành bình dân ngày càng nhiều. Vì đã được tiếp thu nền giáo dục tốt, lúc này họ liền chuyển những tri thức thu được cho những người bình dân trong xã hội, ngược lại, một số kẻ bình dân là những người kinh doanh buôn bán làm giàu trở thành một loại kẻ sĩ, quý tộc mới. Với tình cảnh ấy, nội bộ của các giai cấp đương thời đã có sự thay đổi về chất.
Sang thời Chiến quốc, chiến tranh xảy ra liên miên, vương thất nhà Chu mỗi lúc một suy yếu dẫn đến những biến động to lớn về mặt chính trị, kinh tế, xã hội… Xã hội Trung Quốc thời Xuân Thu- Chiến Quốc là xã hội quá độ từ chế độ chiếm hữu nô lệ chuyển sang chế độ phong kiến, được đánh dấu bằng sự suy vong của chế độ phân phong nhà Chu. Sự suy vong của chế độ này đã đưa tới những hậu quả xã hội to lớn về các phương diện chính trị, kinh tế, xã hội. Đồng thời tình hình mới cũng đưa ra nhiều vấn đề mới cho việc phát triển con người và xã hội. Bởi vậy nhiều học thuyết về con người và xã hội của Trung Quốc cổ đại hình thành và xuất hiện vào lúc bấy giờ, trong đó có Nho giáo.
Cùng với sự xuất hiện của học thuyết Nho gia là sự xuất hiện của các học thuyết Đạo gia, Mặc gia, Pháp gia…Đạo gia chủ trương con người sống theo tự nhiên vô vi, tri túc, quả dục; Mặc gia chủ trương con người sống kiêm ái, hỗ lợi, thượng hiền, thượng đồng; Pháp gia cho rằng con người ta có tích vị kỷ, cần phải kích động tính tự tư, tự lợi để con người tích cực hành động và lấy pháp luật để rằng buộc họ vào việc bảo vệ lợi ích của bậc quân vương. Các học thuyết đó đấu tranh với nhau, xã hội phong kiến Trung Quốc đã lựa chọn học thuyết thống trị cho mình. Nhà Tần lựa chọn học thuyết Pháp gia và nó đã giúp nhà Tần thống nhất đất nước. Song từ nhà Hán về sau, các triều đại phong kiến Trung Quốc đều thừa nhận Nho giáo là học thuyết có thể tạo nên sự ổn định và phát triển của chế độ quân chủ tập quyền.
Nho giáo nguyên thủy - Nho giáo Tiền Tần Thời Xuân thu, chế độ xã hội theo lối phong kiến, nhà Chu lên giữ Ngôi thiên tử, chia thiên hạ ra làm hơn 70 nước để phong cho những người công thần và các con cháu làm Chư hầu. Những nước Chư hầu ấy đều có quyền tự chủ nhưng hàng năm phải triều cống Thiên tử nhà Chu, và khi có sự chinh phạt ở đâu thì phải theo mệnh lệnh Thiên tử đem quân đi tòng chinh. Nước Trung Quốc thời ấy lãnh thổ chỉ quanh trong vùng sông Hoàng Hà, độ chừng năm sáu tỉnh ở phía bắc nước Trung Quốc ngày nay. Khi nhà Chu còn thịnh thì trật tự được phân minh, nhưng khi nhà Chu đã suy nhược phải dời đô về phía đông ở đất Lạc ấp, mệnh lệnh Thiên tử không ai theo, các nước Chư hầu phân ra có đến 160 nước.
Chiến tranh ngày càng kịch liệt, nước nọ kiêm tính nước kia, nước mạnh thì làm bá cả thiên Hạ, Thiên tử cũng không đủ quyền uy mà ngăn cấm được, cương thường đổ nát, nhân dân đồ thán. Thời Xuân thu loạn lạc, đạo Đế vương đời trước mờ tối, người đời say đắm về đường công lợi, không ai thiết gì đến nhân nghĩa nữa. Nhưng cũng vì thế cục biến loạn, dân tình khổ sở, mà người trong nước mới lo nghĩ tìm cách sửa đổi để cứu vớt thiên hạ, các học thuyết mới hưng thịnh lên. Thủa ấy có Khổng tử đem cái đạo của các thánh hiền thời trước, lập thành một học thuyết có hệ thống, lấy nhân nghĩa lễ trí mà dạy người, lấy cương thường mà hạn chế nhân dục để giữ trật tự ở trong xã hội cho vững bền.
Khổng Tử đã san định, hiệu đính và giải thích bộ Lục kinh gồm có Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu và Kinh Nhạc. Về sau Kinh Nhạc bị thất lạc nên chỉ còn năm bộ kinh thường được gọi là Ngũ kinh. Sau khi Khổng Tử mất, học trò của ông tập hợp các lời dạy để soạn ra cuốn Luận ngữ. Học trò xuất sắc nhất của Khổng Tử là Tăng Sâm, còn gọi là Tăng Tử, dựa vào lời thầy mà soạn ra sách Đại học.
Sau đó, cháu nội của Khổng Tử là Khổng Cấp, còn gọi là Tử Tư viết ra cuốn Trung Dung. Đến thời Chiến Quốc, Mạnh Tử đưa ra các tư tưởng mà sau này học trò của ông chép thành sách Mạnh Tử. Từ Khổng Tử đến Mạnh Tử hình thành nên Nho giáo nguyên thủy, còn gọi là Nho giáo tiền Tần (trước đời Tần), Khổng giáo hay "tư tưởng Khổng-Mạnh". Từ đây mới hình thành hai khái niệm, Nho giáo và Nho gia.
Nho gia mang tính học thuật, nội dung của nó còn được gọi là Nho học; còn Nho giáo mang tính tôn giáo. Ở Nho giáo, Văn Miếu trở thành thánh đường và Khổng Tử trở thành giáo chủ, giáo lý chính là các tín điều mà các nhà Nho cần phải thực hành. Cuối đời Chiến quốc và đời nhà Tần- thời kỳ Trung suy của Nho giáo (247 -202 TCN) Nho giáo truyền đến đời Chiến quốc thì gặp phải thời trung suy. Xã hội Trung Quốc thời ấy loạn lạc đến cực điểm: phong tục bại hoại, luân thường đổ nát, vua chúa các nước chỉ chăm lo việc chiến tranh, hết nước này đánh nước nọ đến nước nọ đánh nước kia, việc can qua không lúc nào nghỉ, chính trị rối loạn.
Các học giả phần nhiều có cái tư tưởng hoài nghi của Lão tử, Trang tử, khuynh hướng tiêu cực, cho đời người là có hạn, mà sự trí thức thì vô cùng, dẫu có học tập tìm kiếm cũng không biết thế nào là thật phải, thế nào là thật trái. Bởi cái tư tưởng ấy mà người ta bỏ mất lòng tin về chân lý và sự tiến hóa, còn những người muốn cứu đời thì thấy sự học cao xa không có ích ngay cho việc đương thời, đều chú trọng ở sự công dụng thiển cận, thiên về mặt hình pháp, chủ trương cái thủ đoạn chuyên chế mà bắt buộc nhân chúng phải phục tùng những nhà có quyền thế. Vì thế,các học phái đều mất dần đi, chỉ còn lại cái học phái hình danh, chuyên chú về mặt chính trị. Lúc đầu Khổng tử lấy "nhân" mà dạy người ta cách đối thời dục vật, lấy cái trực giác mẫn nhuệ mà theo thiên lý để xử trí mọi việc cho hợp thời thuận lý.
Cái học ấy truyền được hơn một trăm năm đến Mạnh Tử, Mạnh Tử dậy người ta giữ lấy cái bản tâm rất linh diệu, tự nó sáng suốt, khiến ta biết rõ chân lý ở đời. Theo cái học của ông mà hễ người nào giữ được cái tâm sáng suốt thì biết "nhân" là nhà rộng ta ở, "nghĩa" là cái đường lớn ta đi, không bao giờ bị cái lợi và cái dục làm cho ta lầm đường lạc lối. Cách Mạnh Tử độ chục năm thì có Tuân Tử xướng lên cái thuyết tính ác và lại chú trọng ở sự dùng lễ mà kiểm soát cái tính ác. Tuy ông vẫn giữ cái nền nhân nghĩa trung tín để làm cơ sở cho sự giáo hóa, nhưng ông thiên về mặt công dụng và chủ trương thủ đoạn chuyên chế để trừ bỏ những điều ông cho là tà thuyết, bí từ.
Kết quả của sự học ấy gây thành cái chính trị chuyên ở đời nhà Tần. Sau Tuân Tử trong Nho giáo chỉ có một người nổi danh hơn cả là Hàn Phi, Hàn Phi học theo Tuân Tử dùng lý trí mà duy luận cho đến cùng, học thuyết của ông thiên về mặt hình pháp và mặt công dụng, kết quả là tạo ra chế độ chuyên chế độc tôn. Nguyên cái học của Tuân Tử đã có nhiều điều xa cái tông chỉ của Khổng giáo, đến Hàn Phi thỉ trái hẳn với cái tông chỉ ấy. Có thể nói Hàn Phi không phải là người chân Nho, Nho giáo truyền đến đầu đời Tần là gián đoạn.
Hàn Phi cùng với Lý Tư theo học Tuân Tử, song Lý Tư vẫn chịu Hàn Phi giỏi hơn mình. Ông đi sứ nước Tần, vua Tần muốn dùng ông nhưng Lý Tư lúc ấy đã làm tướng quốc nước Tấn sợ ông được trọng dụng tranh mất quyền lợi của mình nên dèm pha với vua Tần, bắt bỏ ngục và bị chết trong ngục năm 233 TCN. Tuy Hàn Phi không được dùng ở đời nhưng cái học của ông sau được đem ra thi hành ở nước Tần. Cách ba năm sau là năm 230 TCN thì nước Tần lấy nước Hàn, năm 228 lấy nước Triệu, năm 225 lấy nước Ngụy, năm 223 lấy nước Sở, năm 222 lấy nước Yên, năm 221 lấy nước Tề.
từ năm 221 TCN trở đi, nhà Tần thống nhất thiên hạ, lập thành một đế quốc trung ương tập quyền rất mạnh. Vua Tần Thủy Hoàng nhà Tần bỏ hết chế độ cũ, lập thành chính thể mới, lấy hình pháp mà trị thiên hạ.