Chương 1: Tác giả đề cập lý do nghiên cứu, vấn đề và phạm vi nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan những nghiên cứu trước đây. Phần này trình bày sơ lược những nghiên cứu trước đây về phân tích các ảnh hưởng của lạm phát đến độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu tại các thị trường mới nổi. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu.
Phần này trình bày về dữ liệu nghiên cứu, mô hình và phương pháp nghiên cứu. Chương 4: Nội dung và kết quả nghiên cứu. Phần này trình bày cách lựa chọn phương pháp hồi quy nhằm tìm được phương pháp hồi quy thích hợp với mô hình nghiên cứu, kết quả hồi quy đạt được, phân tích kết quả và giải thích ý nghĩa. Chương 5: Kết luận các kết quả chính tìm thấy ở bài nghiên cứu, trình bày những hạn chế và đề xuất các hướng nghiên cứu mới.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 4 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Lạm phát Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt. Lạm phát sẽ có đặc trưng là mức giá chung tăng lên.
Khi tính mức độ lạm phát, các nhà kinh tế sử dụng chỉ số giá cả. Chỉ số giá cả thường được sử dụng nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI). Chỉ số này phản ánh mức thay đổi giá cả của một giỏ hàng hóa tiêu dùng so với năm gốc cụ thể. Thông thường các nhóm chính trong giỏ hàng hóa là thực phẩm, quần áo, nhà cửa, chất đốt, vận tải và y tế.
Lạm phát có ảnh hưởng nhất định đến sự phát triển kinh tế - xã hội tùy theo mức độ của nó. Nhìn chung, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều lợi bên cạnh những tác hại không đáng kể; còn lạm phát cao và siêu lạm phát gây ra những tác hại rất nghiêm trọng đối với kinh tế và đời sống. Tác động của lạm phát còn tùy thuộc vào lạm phát đó có dự đoán trước được hay không, công chúng và các thể chế có thể tiên tri được mức độ lạm phát hay sự thay đổi mức độ lạm phát là một điều bất ngờ. Trong điều kiện lạm phát cao và không dự đoán trước được, cơ cấu nền kinh tế dễ mất cân đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực hàng hóa có giá cả tăng lên cao, những ngành sản xuất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản xuất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro.
Lạm phát phát triển nhanh, biểu giá thường xuyên thay đổi làm cho lượng thông tin được bao hàm trong giá cả bị phá hủy, các tính toán kinh tế bị sai lệch nhiều theo thời gian, từ đó gây khó khăn cho các hoạt động đầu tư (Sử Đình Thành và Vũ Thị Minh Hằng, 2008). Nghiên cứu của Saryal (2007) về ảnh hưởng của lạm phát đến biến động thị trường chứng khoán đã góp phần khẳng định tỷ lệ lạm phát là một trong những yếu tố cơ bản quyết định biến động thị trường chứng khoán. Tỷ lệ lạm phát càng cao, biến LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 động thị trường chứng khoán càng lớn, theo đó rủi ro thị trường cũng càng cao hơn. Phân tích lạm phát giúp các nhà quản trị xem xét các kỳ vọng cho tương lai của nền kinh tế để đưa ra những quyết định chiến lược kinh tế phù hợp.
Theo Campbell và Vuolteenaho (2004), lạm phát cao có thể làm cho các nhà quản trị và nhà đầu tư dự báo tăng trưởng của công ty một cách chủ quan dựa trên những dữ liệu về tăng trưởng trong quá khứ, kết quả là định giá sai giá trị doanh nghiệp. Ổn định lạm phát thành công có thể làm giảm khả năng xảy ra việc định giá sai, những thông tin trong giá bây giờ sẽ đáng tin cậy hơn. Quan điểm này trước đây đã được đặt ra bởi Cohn và Lessard (1980), lạm phát tăng có thể gây ra một sai lầm trong việc định giá. Quyết định đầu tư của doanh nghiệp Theo Brealey và cộng sự (2016), quyết định đầu tư là một trong ba quyết định quan trọng của một doanh nghiệp, nếu như quyết định tài trợ và quyết định phân chia cổ tức được xem như là bước đầu tiên và bước cuối cùng của một quy trình thì quyết định đầu tư sẽ được xem là một mắc xích quan trọng ở giữa đảm bảo cho quá trình hoạt động của doanh nghiệp được hiệu quả, tăng lợi nhuận và tăng giá trị doanh nghiệp.
Việc đưa ra một quyết định đầu tư chính xác mang ý nghĩa rất quan trọng đối với doanh nghiệp. Các doanh nghiệp đầu tư vào các tài sản thực để có thể tạo ra thu nhập cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp đầu tư một phần vào tài sản cố định hữu hình như đất đai, máy móc, thiết bị; phần còn lại doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cố định vô hình như thương hiệu và bằng sáng chế. Để thực hiện sản xuất kinh doanh trong điều kiện của cơ chế thị trường có hiệu quả đòi hỏi các doanh nghiệp phải có vốn và có phương án tạo lập, huy động vốn cụ thể.
Thứ nhất, doanh nghiệp phải xác định nhu cầu vốn (vốn cố định và vốn lưu động) cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Thứ hai, doanh nghiệp phải xem xét khả năng đáp ứng nhu cầu vốn và các giải pháp huy động vốn như sau: - Nếu nhu cầu lớn hơn khả năng thì doanh nghiệp phải huy động thêm vốn, tìm kiếm mọi nguồn tài trợ với chi phí sử dụng vốn thấp nhưng vẫn bảo đảm có hiệu quả. - Nếu khả năng lớn hơn nhu cầu thì doanh nghiệp có thể mở rộng sản xuất, mở rộng thị trường hoặc có thể tham gia vào thị trường tài chính như đầu tư chứng khoán, cho thuê tài sản, góp vốn liên doanh. Thứ ba, doanh nghiệp phải lựa chọn nguồn vốn và phương thức thanh toán các nguồn vốn sao cho chi phí doanh nghiệp phải trả là thấp nhất trong khoảng thời gian hợp lý.
Mỗi năm, các doanh nghiệp lớn và nhỏ chi tiêu rất nhiều tiền vào đầu tư vốn. Các hoạt động đầu tư này vạch ra hướng hoạt động cho tương lai của một công ty trong nhiều năm tới. Công ty không chỉ đầu tư vào các nhà máy, thiết bị mới mà còn cho những chương trình như các chiến dịch quảng cáo, các chương trình nghiên cứu phát triển. Quyết định đầu tư của doanh nghiệp bị chi phối và tác động bởi nhiều yếu tố như yếu tố nội lực bên trong như dòng tiền, quy mô công ty, tỷ lệ đòn bẩy tài chính, tăng trưởng doanh thu, lợi nhuận của công ty, … và các yếu tố ngoại lực bên ngoài doanh nghiệp như lạm phát, pháp luật, GDP, văn hóa quốc gia ….
Để đưa ra một quyết định đầu tư, nhà quản trị phải xem xét các nhân tố tác động và quan tâm thứ tự ưu tiên trong việc chọn lựa. Chi tiêu vốn (capital expenditure) là chi phí tiền mặt dự kiến tạo ra một dòng các lợi ích tiền mặt trong tương lai kéo dài hơn một năm. Có nhiều loại chi phí khác nhau như chi phí mua một thiết bị mới, một bất động sản hay một tòa nhà để mở rộng một sản phẩm hay một ngành dịch vụ hiện có hoặc bước vào một lĩnh vực kinh doanh mới; Thay thế một tài sản cố định hiện có; Chi phí cho một chiến dịch quảng cáo; Chi phí cho một chương trình nghiên cứu phát triển; Các đầu tư cho đào tạo và huấn luyện LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 nhân viên…Các chi tiêu vốn rất quan trọng đối với một doanh nghiệp, bởi vì chúng đòi hỏi các chi phí tiền mặt lớn và chúng có tác động dài hạn đối với thành quả doanh nghiệp (Trần Ngọc Thơ và cộng sự, 2007). Các chi tiêu vốn của doanh nghiệp sẽ tác động đến khả năng sinh lợi tương lai của doanh nghiệp, xác định chủ yếu hướng hoạt động tương lai của doanh nghiệp, bằng cách ấn định doanh nghiệp sẽ sản xuất sản phẩm nào, doanh nghiệp cần phải thâm nhập thị trường nào, đặt cơ sở sản xuất ở địa phương nào và sử dụng loại công nghệ gì.
Độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá cổ phiếu Độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá cổ phiếu (Investment Sesitivity of Stock Prices) thể hiện sự thay đổi trong đầu tư của doanh nghiệp khi có một sự thay đổi trong giá cổ phiếu của doanh nghiệp đó trên thị trường. Độ nhạy cảm của đầu tư đối với giá cổ phiếu có thể bị tác động bởi lạm phát (Farooq và Ahmed, 2017), việc niêm yết chéo của các công ty (Foucalt và Frésard, 2012), văn hóa của các quốc gia, môi trường thông tin (Farooq và Amin, 2016), bầu cử, chính trị (Durnev, 2011), … Nghiên cứu của Ovtchinnilov và McConnell (2009) cho rằng đầu tư có thể chịu ảnh hưởng bởi giá cổ phiếu. Khi thị trường không hoàn hảo do nợ quá mức, việc bất cân xứng thông tin giữa nhà quản lý và nhà đầu tư bên ngoài sẽ ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư của công ty. Các công ty có tỷ lệ đòn bẩy cao, dòng tiền ít, cổ tức thấp sẽ nhạy cảm hơn trong các quyết định đầu tư trước những cơ hội đầu tư có được.
Bởi vì các công ty này dễ bị nợ quá mức, bất cân xứng thông tin, khó khăn về tài chính nên các nhà quản trị công ty này sẽ tận dụng những cơ hội đầu tư mới trong điều kiện thị trường không hoàn hảo. Do đó, lúc này đầu tư đặc biệt nhạy cảm với giá cổ phiếu vì những thay đổi trong giá cổ phiếu phản ánh những thay đổi trong cơ hội đầu tư dành cho các công ty. Giá cổ phiếu sẽ ảnh hưởng đến việc phân bổ vốn và quyết định đầu tư của nhà quản lý. Như vậy, những yếu tố tác động đến giá cổ phiếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 có thể tác động đến suy nghĩ và lựa chọn của nhà quản lý để đưa ra quyết định đầu tư và độ nhạy cảm của đầu tư với giá cổ phiếu được hình thành.
Mô hình cấu trúc q của Tobin - chỉ số đánh giá hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Tobin (1969) đưa ra khái niệm q.