Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về nghiên cứu. Chương 2 nhằm mục đích giới thiệu cơ sở khoa học cho nghiên cứu. Trình bày các lý thuyết về giá trị cảm nhận của khách hàng, các yếu tố ảnh hưởng giá trị cảm nhận, sự hài lòng của khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các phòng khám tư nhân tại Tp. Quảng Ngãi; mối liên hệ giữa giá trị cảm nhận đến sự hài lòng; đề nghị mô hình nghiên cứu và giả thiết nghiên cứu về ảnh hưởng của giá trị cảm nhận đến sự hài lòng của khách hàng trong việc sử dụng dịch vụ khám chữa bệnh tại các phòng khám tư nhân tại Tp.1 Giá trị cảm nhận của khách hàng 2.1 Khái niệm - Theo Zeithaml (1988), giá trị cảm nhận là sự đánh giá tổng thể của khách hàng về tính hữu dụng của sản phẩm, dịch vụ; điều này được xác định dựa vào nhận thức so sánh giữa những gì nhận được và những gì họ bỏ ra; đồng thời, chất lượng, giá cả (tiền tệ và phi tiền tệ), danh tiếng của sản phẩm, dịch vụ và phản ứng cảm xúc của khách hàng là những thành phần có quan hệ với giá trị cảm nhận.
- Day (1990) cho rằng: “giá trị cảm nhận của khách hàng là phần thặng dư giữa những lợi ích được cảm nhận bởi khách hàng và những chi phí được cảm nhận bởi khách hàng”. - Monroe (1990) phát biểu: “giá trị cảm nhân của khách hàng biểu thị chênh lệch giữa chất lượng và những lợi ích mà khách hàng cảm nhận trong sản phẩm và những hi sinh mà họ cảm nhận bởi việc chi trả cho sản phẩm”. - Theo Butz và Goodstein (1990) cho rằng: “giá trị cảm nhận của khách hàng là mối quan hệ cảm xúc được thiết lập giữa khách hàng và nhà cung cấp sau khi khách hàng đã sử dụng một sản phẩm hay dịch vụ của nhà cung cấp và thấy rằng sản phẩm hay dịch vụ đó tạo ra giá trị gia tăng”. - Dodds và cộng sự (1991) lại định nghĩa: “giá trị cảm nhận của khách hàng là tỉ lệ giữa những lợi ích được cảm nhận và những hi sinh được cảm nhận”.
- Theo Woodruff (1997) phát biểu: “giá trị cảm nhận của khách hàng là sự yêu 8 thích, cảm nhận và đánh giá của khách hàng về các đặc tính của sản phẩm, sự thể hiện của đặc tính và những kết quả đạt được từ việc sử dụng sản phẩm để đạt được một cách dễ dàng (hoặc gây trở ngại) ý định và mục tiêu của khách hàng trong các trường hợp sử dụng”. - Cronin và cộng sự (1997) định nghĩa rằng: “giá trị cảm nhận là sự kết hợp của chất lượng dịch vụ và những lợi ích mà nó mang lại (lợi ích chức năng, kinh tế và xã hội) so sánh với những đánh đổi (công sức, tiền bạc và thời gian) mà một cá nhân phải trả để có được dịch vụ. Nó cũng dựa trên những trải nghiệm từ những dịch vụ có liên quan đã từng đạt được”. - Theo Petrick (2002) định nghĩa: “giá trị cảm nhận của khách hàng bệnh cạnh sự đánh đổi mang tính tiền tệ còn phải xét đến các yếu tố phi tiền tế như: chi phí cơ hội, thời gian bỏ ra, những nỗ lực, danh tiếng, quá trình phục vụ và phản ứng cảm xúc của khách hàng.
Những yếu tố này có ảnh hưởng rất lớn đến giá trị cảm nhận của khách hàng. - Theo Hitesh Bhasin (2010): “giá trị cảm nhận của khách hàng là sự chênh lệch giữa tổng giá trị nhận được và tổng chi phí phải trả. Tổng giá trị nhận được là những lợi ích mà khách hàng mong đợi ở một sản phẩm hay dịch vụ, bao gồm giá trị về sản phẩm, dịch vụ, nhân sự và giá trị tâm lý mà nó cần để trao đổi. Tổng chi phí là tất cả những chi phí mà khách hàng phải trả trong việc so sánh, mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó.
Từ những định nghĩa nêu trên, ta có thể thấy các nhà kinh tế có được điểm thống nhất khi định nghĩa về giá trị cảm nhận của khách hàng là giá trị chênh lệch mà khách hàng nhận được khi so sánh giữa những lợi ích mà họ đạt được với những giá trị mà họ đã đánh đổi trong quá trình mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó. Đồng thời những định nghĩa trên cũng đã chỉ ra rằng giá trị cảm nhận của khách hàng còn liên quan mật thiết tới trải nghiệm hoặc kiến thức của họ về việc mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ; cũng như các định kiến, ý thức của họ về sản phẩm, dịch vụ tương đồng mà tổ chức không thể xác định một cách rõ rệt. Nói một cách khác, giá trị cảm nhận của mỗi một khách hàng sẽ có sự chênh 9 lệch nhất định về mỗi sản phẩm, dịch vụ. Có khách hàng cảm nhận sự chênh lệch về giá cả, như một thước đo tương ứng, với giá cả càng thấp họ càng tăng giá trị mà họ đạt được, lại có những khách hàng với tâm lý tiền nào của nấy, khi giá cả tăng cao, họ lại cảm nhận tốt hơn về giá trị mà sản phẩm, dịch vụ mang đến.
Bên cạnh đó, cũng có những khách hàng đặt tiêu chí chất lượng sản phẩm lên hàng đầu mà ít quan tâm tới yếu tố giá cả của sản phẩm, dịch vụ. Từ nhận định đó, ta có thể thấy được với cùng một sản phẩm, dịch vụ như nhau nhưng giá trị mà mỗi khách hàng cảm nhận được luôn có sự chênh lệch. Với sự nâng cao của chất lượng đời sống hiện nay, khách hàng không còn đơn thuần đánh giá một sản phẩm chỉ dựa trên tiêu chí giá cả và chất lượng của sản phẩm, dịch vụ. Bên cạnh đó, còn rất nhiều các yếu tố phức tạp hơn như uy tín, giá trị cảm xúc, giá trị tri thức, giá trị xã hội.
mà họ có thể nhận được khi sử dụng sản phẩm hay dịch vụ đó. Ngoài ra, tùy vào sự khác nhau về điều kiện, mục đích sử dụng, nhu cầu sử dụng mà trọng số của các yếu tố trên đối với giá trị cảm nhận sẽ có sự khác biệt. Vì vậy, các doanh nghiệp ngoài việc quan tâm đến giá cả và chất lượng dịch vụ thông qua việc cải tiến sản xuất, đầu tư nâng cấp dịch vụ, cải thiện nhân sự còn phải phải định được các yếu tố nêu trên để có biện pháp nâng cao giá trị cảm nhận của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ mà họ cung cấp một cách đúng đắn nhất. Khái niệm giá trị dịch vụ đã được nghiên cứu và ứng dụng rất rộng rãi trong lĩnh vực dịch vụ.
Tuy nhiên, trong lĩnh vực y tế thì những nghiên cứu về giá trị cảm nhận còn khá hạn chế. Những nghiên cứu trong lĩnh vực dịch vụ khám chữa bệnh của các tác giả như Choi và cộng sự (2004), Corbin và cộng sự (2001), Ekrem và Fazil (2007) đã sử dụng khái niệm chung của giá trị cảm nhận của khách hàng như trong các ngành dịch vụ khác. Từ những điểm nêu trên, tác giả đề xuất sử dụng giá trị cảm nhận của khách hàng như trong các ngành dịch vụ khác: “giá trị cảm nhận là sự chênh lệch mà khách hàng nhận thức giữa giá trị mà khách hàng đánh đổi với lợi ích mà khách hàng nhận được trong quá trình mua và sử dụng sản phẩm, dịch vụ”. Trong định 10 nghĩa này, chi phí mà khách hàng đánh đổi bao gồm chi phí liên quan đến tiền tệ và phi tiền tệ.
Lợi ích mà khách hàng nhận được là kết quả của chất lượng sản phẩm, dịch vụ; cơ sở vật chất, trình độ nhân viên; thái độ phục vụ; các giá trị cảm xúc, tri thức và xã hội.2 Đo lường giá trị cảm nhận Nghiên cứu của Sheth và cộng sự Giá trị chức năng Giá trị tri thức Giá trị cảm nhận của Giá trị xã hội khách hàng Giá trị cảm xúc Giá trị điều kiện Nguồn: Sheth và cộng sự (1991) Hình 2.1: Mô hình đo lường giá trị cảm nhận của khách hàng của Sheth và cộng sự. - Theo Sheth và cộng sự (1991), giá trị cảm nhận gồm năm thành phần: giá trị chức năng, giá trị tri thức, giá trị xã hội, giá trị cảm xúc và giá trị điều kiện. Trong đó: + Giá trị chức năng đề cập đến lợi ích kinh tế mà khách hàng cảm nhận được bắt nguồn từ các thuộc tính (tính năng, tiện ích, .) của các sản phẩm và dịch vụ. + Giá trị tri thức đề cập đến lợi ích thu được thông qua cung cấp tính năng mới hoặc khơi dậy sự tò mò, sáng tạo của khách hàng nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển tri thức.
+ Giá trị xã hội đề cập đến lợi ích xã hội, đó là giá trị được khách hàng ghi nhận, được đề cao, hoặc được gia nhập vào các mối quan hệ xã hội. + Giá trị cảm xúc đề cập đến các giá trị liên quan đén cảm xúc hay trạng thái tính cảm vui, buồn khi mua được sản phẩm, dịch vụ, cũng như ấn tượng của khách hàng trong quá trình tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ. 11 + Giá trị điều kiện đề cập đến các tiền đề kinh tế, xã hội (bao gồm các chi phí tiền tệ và phi tiền tệ. thủ tục pháp lý) mà khách hàng phải đáp ứng khi chọn mua sản phẩm, dịch vụ.
Nghiên cứu của Sweeny và Soutar (2001) - Nghiên cứu của Sweeny và Soutar trong lĩnh vực bán lẻ. Hai tác giả đã xây dựng thang đo để đo lường giá trị cảm nhận của khách hàng đối với dịch vụ bán lẻ, được gọi là thang đó PERVAL. PERVAL được bao gồm 3 thành phần sau: + Giá trị chức năng: bao gồm các yếu tố như giá cả (giá trị tiền tệ), chất lượng (cảm nhận chất lượng so với năng suất dự kiên của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ), và tính linh hoạt (khả năng thích ứng và thực tiễn của sản phẩm, dịch vụ). + Giá trị cảm xúc: là lợi ích nhận được từ những cảm xúc hoặc trạng thái vui vẻ, thích thú của khách hàng được tạo ra bởi sản phẩm, dịch vụ.
+ Giá trị xã hội: là lợi ích nhận được từ khả năng của sản phẩm có thể nâng cao vị thế xã hội của khách hàng khi sử dụng. Giá trị chức năng Giá trị cảm Giá trị cảm xúc nhận của khách hàng Giá trị xã hội Nguồn: Sweeney và Soutar (2001) Hình 2.