Chương I: Tông quan Chương 2: Tổng quan về chuỗi cửa hàng tiện lợi GS25 và cơ sở lý thuyết Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Mô hình nghiên cứu Nguôn số liệu Thiết kê nghiên cứu Chương 4: Báo cáo kết quả nghiên cứu B. PHAN NOI DUNG CHUONG 1. TONG QUAN CHUONG 2. CO SO LY THUYET 2.1 Cơ sở lý thuyết về dịch vụ Dịch vụ là một quá trình hoạt động bao gồm các nhân tô không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa người cung cấp với khách hàng hoặc tài sản của khách hàng mả không có sự thay đôi quyền sở hữu.
Sản phâm của dịch vụ có thể trong phạm vi hoặc vượt quá vi phạm của sản phẩm vật chất. Theo Philip Kotler, dich vy 1a moi hanh dong va kết quả mà một bên có thê cung cấp cho bên kia mà về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả. Sản phâm của nó có thê có hay không gắn liền với sản phẩm vật chat. Theo Zeithaml va Bitner (2000) dịch vụ là hành vi, là quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nham tao ra giá trị sử dụng cho khách hàng, làm thỏa mãn mong đợi và nhu cau của khách hàng.2 Chất lượng dịch vụ 2.1 Định nghĩa Theo Leonard L.
Berry và cộng sự (1985), cảm nhận của người tiêu dùng về chất lượng dịch vụ là kết quả của sự so sánh giữa kỷ vọng về dịch vụ nhận được truyền đó với trải nghiệm thực sự về dịch vụ sau khi sử dụng. Dựa trên kỳ vọng đó, nêu đạt được thì chất lượng dịch vụ sẽ được cảm nhận là thỏa mãn và ngược lại và nêu vượt quá sẽ là rất thỏa mãn. Nghiên cứu của Leonard Berry và cộng sự đã có sự phát triển cao hơn các nghiên cứu trước đó về chất lượng dịch vụ Khái niệm ông đẹp ra về chất lương dịch vụ dựa trên đánh giá của người sử dụng dịch vụ chứ không phải người sử dụng dịch vụ Có thể người cung cấp dịch vụ cho rằng chất lượng dich vu cua minh là cao, nhưng chưa chắc người sử dụng dịch vụ đã đồng tính thay vậy. Họ đánh giá dựa trên tiêu chí riêng và sự cảm nhận của họ.
Theo Lehtinen (1982), chất lương dịch vụ phải được đánh giá trên hai khía cạnh. Một là quá trình cung cấp dịch vụ. Hai là kết quả của dịch vụ. Grontoos (1984) cũng, đề nghị hai lĩnh vực của chất lượng dịch vụ, đó là chất lượng ky thuật và chất lượng chức năng, Trong đó, chất lượng kỹ thuật liên quan đến những øi được phục vụ và chât lượng chức năng nói lên chúng được phục vụ thay thé nao.
Như vậy, có thê thấy quan điểm được nhiều học giả đồng ý là: Chất lượng dich vụ là những gì khách hàng cảm nhận được chứ không phải là những gi nhà cung cấp dịch vụ công bố. Chất lượng dịch vụ được xác định dựa vào nhận thức hay cảm nhận của khách hàng liên quan đến nhu cầu của họ.2 Một số yếu tố cầu thành chất lượng dịch vụ 7 SERVQUAL là mô hình đo lường mức độ đánh giá của khách hàng dựa trên yếu tô quan trọng nhất. Sự đánh giá đó được khái quát hóa dựa trên khoảng cách giữa sự kỳ vọng của khách hàng vào dịch vụ và thực tế sử dụng dịch vụ. Trong nghiên cứu dau tiên của Parasuraman và cộng sự (1985), chất lượng dịch vụ ðÔm mười yeu tố cầu thành: độ tin cậy, tính đáp ứng, năng lực, tiếp cận được, tác phong, giao tiếp, sự tín nhiệm, tính an, thâu hiểu khách hàng, tính hữu hình.
SERVQUAL tiếp tục được điều chỉnh và kiếm định ở nhiều loại hình dịch vụ khác nhau. Đến 1988, nghiên cứu của Parasuraman và cộng sự được thu gọn lại các yếu tố cầu thành chất lượng dịch vụ bao gồm 22 biến quan sát để đo lường 5 thành phần của chất lượng dịch vụ đó là: sự tin cậy, tính hữu hình, tính đáp ứng, sự đảm bảo, sự đồng cảm. Bang 21: Yếu tổ cấu thành chất lượng dịch vụ - Mô hình SERVQUAL Nguồn: Parasuraman va cong su (1988) Yếu tổ cầu thành Định nghĩa Biến quan sát (22) Khả năng thực hiện dịch Sự tin cậy vụ đã hứa hẹn một cách 4 đáng tin cậy. Điều kiện vật chất, thiết Tính hữu hình bị và hình thức bên ngoài 4 của nhân viên phục vụ.
Sẵn lòng giúp đỡ khách Tính đáp ứng hàng và cung câp dịch vụ 4 nhanh chóng. Kiến thức và tác phong Sự đảm bảo của nhân viên phục vụ, khả năng gây tín nhiệm. Sự đồng cảm Quan tâm, lưu ý cá nhân 5 đôi với từng khách hàng. Nhat Gronroos (1990) đưa ra hai thước đo mà theo ông là phủ hợp hơn voi nganh bán lẻ đó là chất lượng kỹ thuật và chất lượng chức năng.
Cụ thể, các yếu tố hữu hình trong chất lượng kỹ thuật là địa điểm, hàng hóa và trưng bảy. Chất lượng dịch vụ bán lẻ Một số nhà nghiên cứu xem chất lượng dịch vụ bán lẽ cũng giỗng như chất lượng dịch vụ và cũng có một số người khác lại phân biệt chúng (Gaur và Agrawal, 2006) vi cac ctra hang ban lẻ cung cấp cả 2 loại hình, vừa dịch vụ vừa hang hoa (Siu va Cheung, 2001). Cach tốt nhất để miêu tả một doanh nghiệp bán lẽ là nghĩ về nó như một thể liên tục không có kết thúc với sản phẩm hàng hóa hữu hình và dịch vụ là hàng hóa vô hình. Chat lượng dịch vụ là rất quan trọng đối với mọi khía cạnh của việc kinh doanh và no giup tạo ra một hình ảnh tích cực cho thương hiệu bán lẻ (Swoboda và cộng sự, 2007).
Vì thế, địch vụ khách hàng phải được đặt vào trọng tâm cả một doanh nghiệp bán lẻ thành công là điều gây 8 dựng nên sự trung thành của khách hàng. Một trong những sự phân loại sớm nhất về dịch vụ bán lẻ được thực hiện bởi Gapliano và Hathcote (1994). Một sự phân loại khác phổ biến hơn, đó là phân loại của Dahholkar, Thorpe và Rentz (1996) dựa trên nghiên cứu định tính, lý thuyết dịch vụ trước đó và thang đo SERVQUAL, đã đưa ra năm thành phan co ban cua chat lượng dịch vụ bán lẻ là: phương tiện hữu hình, độ tin cậy, tương tác của nhân viên, giải quyết khiếu nại và chính sách của cửa hàng với ba yếu tô đầu tiên là phương tiện hữu hình, độ tín cậy và tương tác của nhân viên, có sự tương đồng với ba yếu tô của SERQUAL. Yếu tô phương tiện hữu hình được đo lường bởi hai thang đo là bề ngoài cửa hàng và mức độ thuận tiện.
Yếu tỔ do tin cay duoc do lường bởi hai thang đo là giữ lời hứa và làm đúng. Yếu tổ tương tác của nhân viên được đo lường bởi hai thang đo là mức độ tự tin và thái độ lịch sự, siúp đỡ khách hàng. Kim & Jin (2002) cũng dùng thang do RSQS trong nghiên cứu với khách hàng Mỹ và Hàn Quốc tại các cửa hàng giảm giá. Nghiên cứu cũng chỉ ra mức độ phủ hợp của ba yếu tố cầu thành chất lượng dịch vụ bán lẻ trong nghiên cứu của Dabholkar và cộng sự (1996) gồm: phương tiện hữu hình, tương tác của nhân viên và độ tin cậy.
Subashini Kaul cũng áp dụng thang đo chất lượng dịch vụ bán lẻ tại các cửa hàng chuyên kinh doanh quần áo thời trang tại Ân Độ. Kết quả nghiên cứu chỉ ra năm yếu tô chất lượng dịch vụ bán lẻ của Dabholkar và cộng sự là không phù hợp tại Ấn Độ. Như vậy, các nghiên cứu tiếp theo đánh giá mức độ ứng dụng của mô hình đánh giá chất lượng dịch vụ bán ẻ đã chỉ ra các kết quả đáng khích lệ. Mehta và cộng sự (2000) đã nhận ra rằng các yếu tố cầu thành thang do chat lượng dịch vụ bán lẻ là phủ hợp hơn với các môi trường bán lẻ nhiều hàng hóa hơn dịch vụ như siêu thị.
Trong khi đó, SERVPERF lại phủ hợp hơn với các môi trường bán lẻ mà ở đó dịch vụ có xu hướng quan trọng hơn như các siêu thị, cửa hàng điện tử. Bashoff & Terlanche (1997) cùng đã chỉ ra mô hình chất lượng dịch vụ bán lẻ phủ hợp với các hình thức bản lẻ trung tâm thương mại, siêu thị. nghiên cứu có thé ap dung m6 hinh chat lượng dịch vụ bán lẻ cho các cửa hàng bán lẻ tại các nước có nền kinh tế chuyền đôi sang kinh tế thị trường.2: Các yếu tố cầu thành chất lượng dịch vụ bán lẻ trong các nghiên. cưu Nguôn: Nhóm tác giả Tác giả (năm) Chất lượng dịch vụ bán lẻ Teas (1994) Sự cao cấp: chất lượng hàng hóa cao/thấp, cửa hàng uy tín, co so vat chat bắt mắt, giá cả cao/thấp.
Hàng hóa: sự lựa chọn, cách bán hàng và các chương trình khuyên mãi. Sự hiệu quả trong quản lý: cách xếp hàng chờ thanh toán, dịch vụ, quan tâm đên khách hàng. Tính trách nhiệm: nhân viên sẵn lòng giúp đỡ, dễ dàng nhìn nhận được câu trả lời khi có thắc mặc, cách giải quyết vấn 9 de. Dịch vụ từ nhân viên: hài lòng với dịch vụ và thân thiện với khách hàng.
Chất lượng sản phẩm: sản phẩm chất lượng cao và có nhãn Reardon & cộng | mác, sự (1298) Không gian bên ngoài cửa hàng. Sự tiện loi: dé đàng vào cửa hàng. Giá cả: p1á cả trong cửa hàng ngang bang với bên ngoài. Chat lượng: sự thân thiện của nhân viên thu ngân, toc độ Gomez và cộng | thanh toán và bãi đậu xe sạch đẹp.
sự Dịch vụ khách hàng: sự da dạng và chất lượng của hàng hóa (2004) và sự sẵn có của hàng hóa. Giá trị nhờn là giá trị của tiền và hàng hóa. Chất lượng thực hiện: chất lượng và thiết kế cửa hàng. Morschett và Phạm vi chao hang: sw da dang cua hang hoa va diém mua cong su (2005) | sam.
Mure d6 914 ca: 914 ca cua hang hóa 2. Su hai long cua khach hang 2. Khai niém vé su hai long cua khach hang Theo Philip Kotler, sy hai long cua khach hang la mu dO cua trang thái cam giác của một người bắt nguôn từ việc so sánh kết quả thu được từ việc tiêu dùng sản phâm hoặc dịch vụ với những kỷ vọng mong muôn. Kỷ vọng được xem như là mong đợi của con người, nó bắt nguồn từ nhu cầu cả nhân, kinh nghiệm trước đó và thông tin bên ngoài như quảng cáo, thông tin từ bạn bè, gia đỉnh, trong đó nhu câu cá nhân là yêu tố được hình thành từ nhận thức của con người mong muốn thỏa mãn cái gì đó như nhu cầu thông tin liên lạc, ăn uống, nghỉ ngơi.