Đặt vấn đề Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của con người, không những là cơ sở cho sự phát triển kinh tế xã hội mà còn giữ chức năng sinh thái cực kì quan trọng, rừng tham gia vào quá trình điều hòa khí hậu đảm bảo chu chuyển oxi, hạn chế lũ lụt hạn hán, ngăn chặn xói mòn đất, giảm nhẹ sức tàn phá khốc liệt của thiên tai, bảo tồn nguồn nước và giảm ô nhiễm không nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của nước ta hiện nay đã và đang được Đảng nhà nước quan tâm. Hiện nay rừng ở trên thế giới nói chung và rừng tại nước ta nói riêng đang bị suy giảm nghiêm trọng về số lượng, chất lượng do rất nhiều nguyên nhân đặc biệt là do các loại bệnh hại cây rừng ở rừng trồng dẫn đến diện tích rừng bị suy giảm. Những hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên rừng vào những mục đích kinh tế của con người đang làm rừng biến mất khỏi trái đất, diễn biến ấy sẽ gây ra những ảnh hưởng hết sức bất lợi đến cuộc sống của con người. Rừng trồng sản xuất tập trung nhằm đáp ứng nhu cầu của các nhà máy giấy các nhà máy sợi, xí nghiệp chế biến ván dăm, các nhà máy chế biến gỗ khác.
Để đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho các nhà máy xí nghiệp gỗ và bảo vệ môi trường, Đảng và nhà nước đã ban hành nhiều chính sách chủ trương nâng cao độ che phủ của rừng, với nhiều dự án đề ra như dự án 661, dự án 327, dự án PAM và các dự án đầu tư và bảo vệ rừng khu vực miền núi. Ở nước ta với diện tích trồng rừng lớn số lượng cây nhiều và trồng thuần loài, cách chăm sóc cây trồng người dân còn ở mức độ thấp nên ở giai đoạn cây phát triển thường bị sâu bệnh hại, để rừng trồng phát triển tốt và đạt năng suất cao thì phải nhận biết được các loại sâu, nấm hại cây, để có biện pháp tiến hành phòng trừ sâu bệnh hại cây một cách hiệu quả. Xuất phát từ những vấn đề trên, với nguyện vọng đóng góp một phần nhỏ của bản thân về bệnh hại cây rừng nói chung và bệnh hại trong rừng trồng n 2 nói riêng, em tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá ảnh hưởng của độ dốc tới mức độ bị bệnh do nấm Ceratocystis hại trên Keo lai (Acacia hybrid) tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài - Nhận biết và xác định được cây bị bệnh, cấp bệnh cho từng cây trong OTC, nguyên nhân gây bệnh, do nấm Ceratocystis gây hại cho Keo lai.
- Nghiên cứu các đặc tính sinh thái điển hình về nấm bệnh. - Điều tra, đánh giá được tình hình, thực trạng, vấn đề bệnh do nấm Ceratocystis gây ra với rừng trồng Keo lai ở xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên. - Đề xuất một số biện pháp phòng trừ giảm thiểu nấm bệnh gây hại. Ý nghĩa việc thực hiện đề tài 1.
Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức môn học, bổ sung kiến thức còn thiếu, áp dụng những kiến thức lý thuyết vào trong thực tiễn. - Rèn luyện các kỹ năng thu tập số liệu, viết báo cáo bổ sung tài liệu tham khảo về công tác khuyến nông khuyến lâm cho xã Khe Mo. - Tạo cơ hội cho sinh viên làm quen, tìm hiểu kiến thức điều tra ngoài thực tế làm tiền đề cho công việc sau này. - Điều tra đánh giá bệnh hại do nấm Ceratocystis gây ra ở rừng trồng.
Đồng thời đây cũng là cơ hội để giúp sinh viên học tập tích lũy kinh nghiệm, nâng cao rèn luyện kỹ năng làm đề tài cho bản thân. Ý nghĩa trong thực tiễn Từ những kết của nghiên cứu tìm ra được bệnh nấm hại cây Keo lai, trên cơ sở đó giúp cho người trồng rừng có thể tìm ra giải pháp phòng bệnh nấm hại cây Keo lai trên rừng trồng tại xã Khe Mo, huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng trồng. n 3 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CƢ́U 2. Cơ sở khoa học 2.
Nghiên cứu về gây trồng Keo lai Keo lai là tên gọi viết tắt của giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis). Giống keo lai tự nhiên này được phát hiện đầu tiên bởi messir Herbern và Shim vào năm 1972. Ngoài ra, Keo lai tự nhiên còn được phát hiện ở vùng Balamuk và Old Tonda của Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Gun và cộng sự 1987, Griffin, 1988), ở một số nơi khác tại Sabah (Rufelds 1987), và Ulu kukut (Darus và Rasip 1989) của Malaysia,… Nghiên cứu về hình thái cây Keo lai có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Rufelds (1988) Gan.E Sim Boom Liang (1991) các tác giả đã chỉ ra rằng: Keo lai xuất hiện lá giả sớm hơn Keo tai tượng và muộn hơn Keo lá tràm. Ở cây con lá giả đầu tiên của keo lá tràm thường xuất hiện ở lá thứ 4 - 5.
Keo tai tượng thường xuất hiện ở lá thứ 8-9 còn ở Keo lai thường xuất hiện ở lá thứ 5 - 6. Bên cạnh đó là sự phát hiện về tính chất trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm ở các bộ phận sinh sản (Bowen 1981). Theo nghiên cứu của Rufeld (1987) thì không tìm thấy một sự sai khác nào đáng kể của Keo lai so với bố mẹ. Các tính trạng của chúng đều thể hiện tính trung gian giữa 2 loài bố mẹ mà không có ưu thế lai thực sự.
Tác giả đã chỉ ra rằng Keo lai hơn Keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành nhỏ hơn và khả năng tỉa cành tự nhiên khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân, hình dạng tán lá và chiều cao dưới cành lại kém hơn Keo tai tượng. Tuy nhiên, theo kết quả nghiên cứu của Pinso Cyril và Robert Nasi (1991) thì trong nhiều trường hợp cây Keo lai có xuất xứ ở Sabah vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng. Về ưu thế lai thì có thể có nhưng n 4 không bắt buộc vì có thể bị ảnh hưởng của cả hai yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa. Nghiên cứu cũng cho thấy rằng sinh trưởng của Keo lai tự nhiên đời F1 là tốt hơn, còn từ đời F2 trở đi cây sinh trưởng không đồng đều và trị số trung bình còn kém hơn cả Keo tai tượng.
Khi đánh giá về các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai, Pinso và Nasi (1991) thấy rằng độ thằng của thân, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều của thân. đều tốt hơn giống bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại. Nghiên cứu về bệnh hại keo Bệnh cây rừng là một môn khoa học còn rất non trẻ đã được bắt đầu nghiên cứu trên 150 năm nay, tuy vậy sự cống hiến cho công tác nghiên cứu khoa học, phục vụ cho đời sống sản xuất thực tiễn của các nhà bệnh cây hết sức to lớn. Lịch sử phát triển môn bệnh cây từng trải qua 3 giai đoạn, theo G.
Heptig - nhà bệnh cây rừng nước Mỹ mỗi một giai đoạn thường khoảng 30 - 40 năm. Thời kì đầu là nghiên cứu chủng loại, phân bố, mức độ bị hại, quy luật phát bệnh và biên pháp phòng trừ. Thời kì thứ hai đã chuyển hướng sang nghiên cứu thăm dò đặc tính sinh thái các bệnh có tính hủy diệt, các biện pháp chọn giống và kĩ thuật lai tạo các loài cây chống chịu bệnh. Các quan hệ bệnh hại và ô nhiễm môi trường, các bệnh do Mycoplasma gây ra.
Thời kì thứ ba từ năm 1970 đến nay, bệnh cây rừng bước vào nghiên cứu sâu hơn về đánh giá tổn thất, dự tính dự báo hiệu quả kinh tế thông qua toán học hiện đại, quản lí thông tin và đưa việc “Quản lí tổng hợp sâu bệnh hại rừng” (IPM) đến với những người làm công tác lâm nghiệp. Sử sách đã ghi chép các hiện tượng tự nhiên gây ra những tổn thất cho kinh tế, trong đó có bệnh cây rừng. Hơn 300 năm trước công nguyên (TCN), người Cổ Hi Lạp Theophrastus đã mô tả khả năng chống chịu bệnh của cây n 5 gỗ. Trong cuốn “Thần nông bản thảo kinh” TCN người Trung Quốc đã mô tả bệnh thối nâu quả đào.
Có những tài liệu thống kê cho biết từ đời Chu đến đời Thanh đã có 5000 điều ghi chép về bệnh hại cây gỗ. Trước thế kỉ 19 một số nhà bệnh cây Châu Âu đã có những thăm dò vật gây bệnh trên cây gỗ.Hartig và con ông T.Hartig đã có những mô tả về nguyên nhân gỗ bị mục, nhưng học thuyết đó chưa được xác lập do nhiều kết luận sai. Cho nên Những quan sát, thí ngiệm và phân tích bước đầu về bệnh cây rừng đầu thế kỉ 19 được xem là phôi thai của khoa học bệnh cây rừng. Bệnh cây rừng dã trở thành môn học độc lập từ năm 1980 và được phát triển trên cơ sở khoa học lâm sinh học và bệnh cây thực vật.
Năm 1996 nhà thực vật học người Đức M.Willkom kẻ thù nhỏ của cây rừng, đã có tác dụng thúc đẩy ngành khoa học này phát triển và Robert Hartig người cháu ruột của G.Lhartig đã được công nhận là người đặt nên móng cho khoa học bệnh cây rừng. Năm 1974 đến 1975 ông phát biểu các tài liệu chuyên khảo về bệnh cây rừng như “bệnh hại cây chủ yếu cây rừng”, “hiện tượng tổn thương cây gỗ”. Năm 1982, ông xuất bản cuốn “khoa học bệnh cây” đó là cuốn giáo trình bệnh cây rừng.hartig còn bồi dưỡng nhiều nhà khoa hoc nội tiếng và trở thành các nhà sáng lập bệnh cây rừng ở các nước châu Âu, châu Mĩ. Những năm 50 của thế kỷ XX, nhiều nhà bệnh cây đã tập trung vào viêc xác định loài, mô tả nguyên nhân gây bệnh, điều kiện phát sinh, phát triển bệnh.
Đặc biệt ở các nước nhiệt đới, L.loger (1953) đã nghiên cứu các loại bệnh hại cây rừng được mô tả trong cuốn bệnh hại cây rừng nhiệt đới. Trong đó có một số bệnh hại cây thông, bạch, đàn keo. Đầu thế kỷ XX đến nay khoa học công nghệ ngày càng phát triển nên nền sản xuất nông lâm nghiệp đòi hỏi kỹ thuật ngày càng cao cần các nghiên cứu tìm hiểu quá trình phát sinh phát triển các loại bệnh gây hại để tìm ra các biện pháp phòng trừ có hiệu quả nhất. n 6 Theo kết quả nghiên cứu của Pedlay năm 1978 và Baland 1986 với tổng số 1200 loài Keo acacia là một loài chi thực vật quan trọng với nhiều nước.