CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ẢNH HƯỞNG CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. CẤU TRÚC VỐN VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHTM Trong bài nghiên cứu “Khái niệm và vai trò của vốn trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại” của tác giả Nguyễn Thu Hà được đăng trên trang web Thư viện học liệu mở Việt Nam thì vốn của NHTM là “những giá trị tiền tệ do ngân hàng tự tạo ra hoặc huy động được. Nguồn vốn đó có mục đích là dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Ngân hàng giữ vai trò là nơi tập trung vốn rồi sau đó phân phối lại vốn dưới hình thức tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, thúc đẩy kinh tế phát triển.
Đồng thời, chính các hoạt động đó lại quyết định sự tồn tại và phát triển của ngân hàng”. Nói tóm lại nguồn vốn trong ngân hàng bao gồm vốn chủ sở hữu và các loại vốn còn lại được huy động từ thị trường bằng nhiều phương thức khác nhau ta gọi chung là nợ. Ta có Tổng tài sản = Tổng nguồn vốn = Vốn chủ sở hữu + Nợ, điều này tương đương với: Vốn chủ sở hữu + Nợ =1 Tổng nguồn vốn Vậy để tìm hiểu vốn có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động kinh doanh ngân hàng ta cần tìm hiểu thông qua chỉ số Nợ trên Tổng nguồn vốn (hay Tổng tài sản). Do trong các ngân hàng thì Nợ có vai trò là nguồn vốn chủ yếu, quan trọng.
Các lý thuyết về cấu trúc vốn Trong quá trình phát triển các lý thuyết về cấu trúc vốn thì công trình nghiên cứu đầu tiên, có đóng góp quan trọng là của Modigliani và Miller (1958). Luận điểm đầu tiên của Modigliani và Miller (thường được viết tắt là M&M) vào năm 1958 đã cho rằng giá trị doanh nghiệp độc lập với cấu trúc vốn. Với các giả định thị 123doc 7 trường vốn hoàn hảo như không có các chi phí giao dịch, tỷ lệ vay giống như tỷ lệ cho vay và bằng với tỷ lệ vay miễn phí cùng với việc đánh thuế được bỏ qua… đồng nghĩa với việc vay nợ mang đến một thuận lợi đó là nợ vay rẻ hơn và ít rủi ro hơn cho nhà đầu tư; và một bất lợi đó là chi phí vốn chủ sở hữu sẽ tăng cùng với nợ. Luận điểm M&M đã chứng minh được hai tác động đó cân bằng nhau; tức là việc vay nợ mang đến cho chủ sở hữu tỷ suất lợi tức cao hơn, nhưng đây cũng chính là những gì chủ sở hữu phải bù đắp cho nguy cơ tăng lên từ tỷ lệ vốn vay so với tổng vốn.
Do lý thuyết này dựa trên các giả định hạn chế và không phù hợp lắm với thực tế nên việc ứng dụng lý thuyết này vào đời thực vẫn còn nhiều hạn chế. Năm 1963, M&M đã đưa ra một nghiên cứu tiếp theo, xem xét lại bài nghiên cứu trước đây của họ vào năm 1958 bằng cách kết hợp lợi ích của thuế thu nhập doanh nghiệp là bộ phận quan trọng trong quyết định về cấu trúc vốn. Theo đó, sự hiện diện của thuế thu nhập doanh nghiệp thì việc sử dụng nợ sẽ làm tăng giá trị doanh nghiệp. Chi phí lãi vay là chi phí sẽ được khấu trừ khi tính thuế; do vậy, các doanh nghiệp có nghĩa vụ nộp thuế sẽ được hưởng lợi ích từ lá chắn thuế.
Như vậy, theo M&M (1963) thì cấu trúc vốn có liên quan đến giá trị doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng nợ càng nhiều thì giá trị càng tăng do những lợi ích từ lá chắn thuế mang lại. Hai lý thuyết của M&M tuy không được áp dụng nhiều vào thực tế do một số giả định chưa phù hợp thực tiễn. Tuy nhiên, đây là hai lý thuyết định tính đầu tiên về cấu trúc vốn trong lĩnh vực kinh tế học tài chính, được xem là nền tảng để các nhà nghiên cứu khác tiếp tục phân tích.
Như đã đề cập, cấu trúc vốn tối ưu liên quan đến việc đánh đổi giữa chi phí và lợi ích của doanh nghiệp. Các lý thuyết về cấu trúc vốn có thể xem xét tiếp theo nhìn chung được tập trung vào ba chủ đề nổi bật đó là lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn, lý thuyết trật tự phân hạng và lý thuyết chi phí đại diện. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ kết hợp giữa nợ vay và vốn cổ phần. Do bên cạnh sự hiện hữu lợi ích 123doc 8 tấm chắn thuế từ nợ, thì còn tồn tại thêm chi phí kiệt quệ tài chính.
Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng tăng. Đến lúc mà khi vay thêm nợ thì hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính nữa thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Chính vì thế, khi các giám đốc tài chính lựa chọn được tỷ lệ vay nợ hợp lý dựa trên nguyên tắc cân bằng này thì đó cũng là cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp. Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn này đã được nghiên cứu bởi Kraus và Litzenberger (1973), Myers (1977) và Myers (1984).
Lý thuyết trật tự phân hạng được nghiên cứu khởi đầu bởi Myers và Majluf (1984). Lý thuyết này dựa trên kết quả của thông tin bất cân xứng dẫn đến việc nhà quản lý hiểu rõ hơn về giá trị doanh nghiệp, rủi ro cũng như các hoạt động tiềm năng trong tương lai của doanh nghiệp hơn là các nhà đầu tư bên ngoài. Điều này làm cho các nhà quản lý phải lựa chọn giữa tài trợ nội bộ và tài trợ từ bên ngoài; giữa phát hành mới chứng khoán nợ và chứng khoán vốn cổ phần. Điều này đưa tới một trật tự phân hạng, bắt đầu sẽ dựa vào nguồn vốn nội bộ, tiếp đến là phát hành nợ và sau đó là cấp phát vốn cổ phần được cấp phát.
Lý thuyết chi phí đại diện năm 1976, Jensen và Meckling xem xét lại mô hình M&M với giả định các quyết định đầu tư độc lập với cấu trúc vốn. Như ta đã biết, nhiệm vụ chủ yếu của các nhà quản lý là tối đa hóa lợi nhuận cho công ty cũng như lợi ích của cổ đông. Tuy nhiên, theo lý thuyết này thì Jensen và Meckling (1976) và Jensen và Ruback (1986) lập luận rằng các nhà quản lý không phải lúc nào cũng ra quyết định để tối đa hóa lợi nhuận cho các cổ đông mà họ có thể thông qua các khoản đầu tư phi lợi nhuận dù có thể mang đến thiệt hại cho cổ đông nhưng mang đến lợi ích cá nhân cho họ. Để giảm thiểu xung đột này, Pinegar và Wilbricht (1989) đã lập luận rằng cấu trúc vốn có thể được chọn thông qua sự gia tăng mức độ nợ và không gia tăng chi phí đại diện.
Điều này làm cho các nhà quản lý quyết định đầu tư vào các dự án phi lợi nhuận thì họ không thể trả lãi cho chủ nợ, khi chủ nợ buộc công ty thanh lý thì các nhà quản lý sẽ bị mất quyền quyết định hoặc có thể bị mất việc. Vậy lý thuyết này cho rằng các công ty vay nợ thì tốt hơn. Đòn bẩy tài 123doc 9 chính tăng sẽ làm giảm chi phí đại diện, giảm các hoạt động thiếu hiệu quả và do đó tăng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp. Hiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM Hiệu quả hoạt động kinh doanh là một phạm trù biểu hiện sự phát triển theo chiều sâu, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực với chi phí bỏ ra ít nhất mà đạt hiệu quả cao nhất.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh trong ngân hàng có thể được đánh giá theo hai phương diện; đó là định tính hoặc định lượng. Về phương diện định tính đánh giá hiệu quả hoạt động là đánh giá thông qua các biện pháp ngân hàng quyết định trong quá trình hoạt động. Điển hình là xem xét các chính sách, chiến lược có phù hợp chưa; bộ máy quản trị – điều hành – thanh tra giám sát hoạt động có hiệu quả không; và cũng không kém phần quan trọng đó là đánh giá trình độ chuyên môn của đội ngũ nhân viên vì đội ngũ nhân viên có làm việc chuyên nghiệp thì mới đảm bảo triển khai thành công các chính sách, thực hiện hiệu quả các chiến lược mà nhà quản lý đề ra. Những tiêu chí đó sẽ giúp chúng ta đánh giá được ngân hàng có hoạt động và phát triển có hiệu quả hay không về mặt định tính.
Đứng trên phương diện định lượng có khá nhiều mô hình, chỉ số nhằm đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Nhìn chung để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh về mọi mặt, chúng ta thường sử dụng các chỉ tiêu định lượng để xác định. Bởi lẽ các chỉ tiêu định tính sẽ mang tính chủ quan của người đánh giá. Cho nên các chỉ tiêu định lượng mới cho ta biết được ngân hàng đó thực sự hoạt động có hiệu quả hay không.
Các chỉ tiêu định lượng thường được sử dụng như chỉ tiêu lợi nhuận; vì lợi nhuận là chỉ tiêu phản ánh tổng hợp tình hình kinh doanh. Các nhà nghiên cứu thường sử dụng các mô hình như IRR (Internal Rate of Return – tỷ suất hoàn vốn nội bộ), CFROI (Cash Flow Return on Investment – dòng tiền tệ trên suất thu hồi), DCF (Discounted Cash Flow – dòng tiền chiết khấu); cùng các chỉ số như ROE (Return on Equity – tỷ suất sinh lời trên vốn chủ), ROA (Return on Asset – tỷ 123doc 10 suất sinh lời trên tài sản), EPS (Earning Per Share – lợi nhuận trên mỗi cổ phần), NIM… Trong đó, chỉ tiêu được sử dụng rộng rãi hơn cả là ROE và ROA. Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100 Vốn chủ sở hữu Chỉ tiêu ROE cho biết số lợi nhuận được thu về cho các chủ sở hữu sau khi họ đầu tư một đồng vốn vào hoạt động kinh doanh. Lợi nhuận sau thuế ROA = x 100 Tổng tài sản Chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
ROA cho biết bình quân một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình hoạt động kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. ẢNH HƯỞNG CẤU TRÚC VỐN ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI Quyết định lựa chọn cấu trúc vốn là một quyết định quan trọng liên quan đến sự sống còn của một tổ chức, ngân hàng cũng không phải là một ngoại lệ; do lợi nhuận trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi những quyết định này.