CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Các nghiên cứu có liên quan 1.1 Các nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán Dựa trên những nghiên cứu về hệ thống thông tin kế toán, có thể thấy trong quá khứ, các tác giả chủ yếu đi theo năm dòng nghiên cứu chính là: lý thuyết chấp nhận công nghệ, lý thuyết khoa học thiết kế, khoa học nhận thức, giá trị công nghệ thông tin dưới góc độ doanh nghiệp, lý thuyết về kiểm toán và kiểm soát. Trong một nghiên cứu của Vasseen (2009), tác giả này đã tổng hợp các lý thuyết như sau: + Lý thuyết chấp nhận công nghệ ứng dụng vào hệ thống thông tin kế toán bắt nguồn từ quan điểm về công nghệ thông tin và sự chấp nhận những cải tiến của người dùng tiềm năng (Bedard và cộng sự, 2003; Li và Pinsker, 2005; Rose và Kraemmergaard, 2006; Gelinas và Gogan, 2006; Pennington và cộng sự, 2006). + Lý thuyết khoa học thiết kế chiếm ưu thế vài thập kỷ trước khi McCarthy phát triển phương pháp REA (McCarthy, 1979, 1982, 2003; Dunn và McCarthy, LV thạc sĩ Kinh tế 1997). Hiện tại lý thuyết này chủ yếu liên quan đến mô hình hóa dữ liệu nhằm xây dựng cơ sở dữ liệu vì các đại diện của thế giới thực khá khan hiếm (Geerts và McCarthy, 2002; Borthick và Jones, 2007).
+ Mô hình khoa học nhận thức sử dụng các mô hình tính toán và xử lý thông tin của tâm trí con người để nghiên cứu hệ thống thông tin kế toán (Ray và cộng sự, 2003; Bowen và cộng sự, 2003; Wheeler và cộng sự, 2004; Dilla và Steinbart, 2005; Wheeler và Jones, 2006; Peng và cộng sự, 2007). + Lý thuyết về giá trị công nghệ thông tin dưới góc độ doanh nghiệp thảo luận và các giá trị mà doanh nghiệp nhận được khi ứng dụng công nghệ thông tin như những lợi ích về kinh tế, lợi ích quản trị, lợi ích xã hội (Dehning và cộng sự, 2006; Elbashir và cộng sự, 2008; Kobelsky và cộng sự, 2008; Bradley, 2008; Brazel và Dang, 2008; Bajaj và cộng sự, 2008; Wang và Alam, 2007). + Lý thuyết về kiểm toán và kiểm soát tập trung vào các hệ thống được đưa ra để cải thiện chất lượng thông tin kế toán. Trọng tâm có thể là kiểm soát đầu vào và đầu ra của hệ thống thông tin kế toán (kiểm soát nội bộ và kiểm soát quản lý) 7 hoặc các kiểm soát trong chính hệ thống thông tin kế toán.
Các tài liệu trong mô hình này nghiên cứu các chủ đề như kiểm toán liên tục, niêm phong web, bảo mật thông tin và phương pháp truy vấn dữ liệu (O'Donnell, 2005; Alles và cộng sự, 2008; Borthick và Curtis, 2008; Walters, 2007; Abu -Musa, 2006). Công nghệ thông tin phát triển có ảnh hưởng đến chiến lược kinh doanh, tạo ra lợi thế cạnh tranh cho các doanh nghiệp (Romney và Steinbart, 2017), giúp các doanh nghiệp cắt giảm chi phí trong hoạt động kế toán. Hệ thống thông tin kế toán có khả năng thực hiện ba chức năng quan trọng cho một tổ chức là thu thập, lưu trữ dữ liệu về nguồn lực, hoạt động của một tổ chức; chuyển đổi dữ liệu thành thông tin có ích phục vụ việc lập kế hoạch, kiểm soát, đánh giá các hoạt động; cung cấp các hoạt động kiểm soát đảm bảo an toàn cho dữ liệu (Romney và Steinbart, 2017). Do đó, hệ thống thông tin kế toán được xem là một phần quan trọng không thể thiếu để kiểm soát thông tin kinh tế, tài chính và phục vụ việc đưa ra những quyết định hiệu quả.
LV thạc sĩ Kinh tế Có rất nhiều hướng nghiên cứu về hệ thống thông tin trong quá khứ, tuy nhiên năm dòng nghiên cứu trên thường được các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu. Căn cứ trên việc phân tích năm dòng nghiên cứu về hệ thống thông tin trong quá khứ, nghiên cứu này được thực hiện dựa trên quan điểm của lý thuyết về giá trị công nghệ thông tin dưới góc độ doanh nghiệp để xem xét những lợi ích về mặt kinh tế cũng như về mặt quản trị khi ứng dụng thành công một hệ thống thông tin có tính hữu hiệu đối với doanh nghiệp.2 Các nghiên cứu tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Tính hữu hiệu của HTTTKT là một trong những biến phụ thuộc quan trọng trong các nghiên cứu về HTTTKT (DeLone và McLean, 1992; Thong và cộng sự, 1996; Seddon, 1997; Foong, 1999; Thong, 2001). Raymond (1990) đã xác định tính hữu hiệu của HTTTKT được xem như là những đóng góp mà HTTTKT đem lại cho mục đích hoạt động của tổ chức. Nghiên cứu của Nicolaou (2000) ủng hộ quan điểm tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán phụ thuộc vào sự phù hợp của hệ thống thông tin kế toán tích hợp với các yếu tố thuộc về tổ chức như cấu trúc tổ 8 chức, chức năng hoạt động của tổ chức, một hệ thống thông tin hữu hiệu có thể đáp ứng nhu cầu kiểm soát và nhu cầu thông tin của tổ chức đó.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hiện vẫn chưa rõ yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất đến HTTTKT bởi vì định nghĩa và đưa ra tính hữu hiệu của HTTTKT thì khác nhau giữa các nghiên cứu (de Guinea và cộng sự, 2005). Theo một số nghiên cứu, tính hữu hiệu của HTTTKT bao gồm cách sử dụng HTTTKT (Lai, 1994; Magal và Lewis, 1995; Foong, 1999), sự thỏa mãn của người dùng (Bailey và Pearson, 1983; Montazemi, 1988; Yap và cộng sự, 1992; Raymond và Bergeron, 1992; Foong, 1999), hiệu quả của dự án, hiệu quả của dịch vụ và hiệu quả kinh tế (Yap và cộng sự, 1992). Thông qua việc tìm hiểu khái niệm về tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán, tác giả nhận thấy có sự khác nhau giữa các nghiên cứu và tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán được xem xét ở nhà nhiều khía cạnh khác nhau tùy theo quan điểm và bối cảnh nghiên cứu cụ thể. LV thạc sĩ Kinh tế 1.3 Các nghiên cứu về nhân tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán Vì những lợi ích của việc ứng dụng hệ thống thông tin kế toán mang lại cho các doanh nghiệp nên đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới, chủ yếu là nghiên cứu thực nghiệm để nhận diện và xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến tính hữu hiệu của hệ thống thông tin kế toán.
Trong quá trình tổng hợp các nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau, tác giả nhận thấy một số nhóm nhân tố chủ yếu như sau: + Nhân tố nhà quản lý bao gồm các cam kết quản lý, sự hỗ trợ của nhà quản lý, kiến thức kế toán của nhà quản lý hay sự am hiểu về HTTTKT của nhà quản lý. + Nhân tố người dùng hệ thống bao gồm sự tham gia của người dùng, năng lực người dùng + Nhân tố sự tham gia của các chuyên gia bên ngoài + Nhân tố nguồn lực tài chính phân bổ cho việc đầu tư vào HTTTKT + Nhân tố độ phức tạp của hệ thống + Nhân tố kinh nghiệm về việc thực hiện HTTTKT 9 + Nhân tố kiến thực chuyên môn trong nội bộ + Nhân tố chất lượng dữ liệu Phần tiếp theo, tác giả sẽ tổng hợp các quan điểm về các nhân tố này trong các nghiên cứu trước đây.1 Nhân tố nhà quản lý Nhóm nhân tố nhà quản lý được sử dụng rộng rãi trong các nghiên cứu về xây dựng hệ thống thông tin kế toán. Các nghiên cứu trước đây xem xét trên những khía cạnh khác nhau như: sự cam kết của nhà quản lý, sự hỗ trợ của nhà quản lý, kiến thức về kế toán hay kiến thức về hệ thống thông tin của nhà quản lý. Dưới đây là tóm tắt các quan điểm nghiên cứu về nhóm nhân tố này.
Tầm quan trọng của sự cam kết quản lý đối với tính hữu hiệu của HTTTKT đã được thừa nhận trong một số nghiên cứu trước đây (Yap và cộng sự, 1992; Igbaria và cộng sự, 1997; Thong và cộng sự, 1996, 1999; de Guinea và cộng sự, 2005). Nghiên cứu của Yap (1989) đã chỉ ra 2 lý do tại sao các nhà quản lý thường hỗ trợ LV thạc sĩ Kinh tế việc thực hiện HTTTKT. Đầu tiên, trên cương vị của mình, các nhà quản lý có cơ hội nhận diện cơ hội kinh doanh từ việc khai thác hiệu quả HTTTKT bởi vì chính những nhà quản lý là người hiểu rõ nhất việc kinh doanh của doanh nghiệp (Thong và cộng sự, 1996). Do đó, các nhà quản lý có thể ứng dụng HTTTKT sao cho phù hợp với mục tiêu và chiến lược kinh doanh của chính doanh nghiệp (Javenpaa và Ives, 1991).
Ngoài ra, việc thực hiện HTTTKT đòi hỏi có sự đầu tư bền vững về mặt tài chính và một sự tác động đến hoạt động của toàn bộ tổ chức (Yap, 1989). Tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các nhà quản lý có đủ thẩm quyền để đảm bảo cho việc phân bổ nguồn lực tài chính và tạo ra môi trường có lợi cho việc thực hiện HTTTKT (Lucas, 1981). Một số bằng chứng từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đây (Igbaria và cộng sự, 1997; de Guinea và cộng sự, 2005; Foong, 1999) đã chứng minh rằng những cam kết của nhà quản lý có ảnh hưởng tích cực đối với nhận thức sử dụng và nhận thức tính hữu ích của người dùng đối với HTTTKT trong các DNNVV. Tóm lại, cam kết của nhà quản lý có thể là nguyên nhân dẫn đến sự thành công hay thất bại trong việc thực hiện HTTTKT (de Guinea và cộng sự, 2005).
10 Sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao là việc các nhà quản lý cấp cao sẵn sàng cung cấp nguồn lực và quyền hạn cần thiết để đảm bảo thành công của dự án (Meiryani, 2015). Muntoro (1994) (trích trong Meiryani, 2015) cho rằng sự hỗ trợ này không chỉ quan trọng trong việc phân bổ nguồn lực mà còn giúp các nhân viên thấy được sự cần thiết thực hiện hệ thống. Theo Meiryani (2015) thì sự hỗ trợ này là một yếu tố quan trọng giúp xác định tính hữu hiệu của việc áp dụng hệ thống này được định nghĩa là sự hiểu biết của nhà quản lý về hệ thống thông tin và mức thông tin, là yếu tố quan trọng hỗ trợ cho tính hữu hiệu của việc chấp nhận tính hữu hiệu của hệ thống. Nghiên cứu của Lee và Kim (1992) thì cho rằng sự hỗ trợ của nhà quản lý cấp cao trong nghiên cứu là mức độ quan tâm, hỗ trợ và kiến thức về hệ thống thông tin (Lee và Kim, 1992).
Bên cạnh đó, một số nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra tầm quan trọng của sự hỗ trợ của các nhà quản lý đối với sự thành công của hệ thống thông tin (Lucas, 1981).