Chương 1: Cơ sở lý luận về an ninh tài chính cho thị trường tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; Chương 2: Thực trạng về an ninh tài chính của thị trường tài chính Việt Nam, đánh giá, nhận định, nguyên nhân và bài học; Chương 3: Giải pháp đảm bảo an ninh tài chính cho thị trường tài chính Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế. 11 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ AN NINH TÀI CHÍNH CHO THỊ TRƢỜNG TÀI CHÍNH TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1. Tổng quan về an ninh tài chính trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế 1. Khái niệm về an ninh tài chính An ninh là một khái niệm rất rộng, nói đến an ninh người ta thường nghĩ đến an ninh quốc gia, an ninh chính trị, an ninh xã hội với việc đảm bảo an ninh bằng các biện pháp bảo vệ chủ quyền quốc gia, bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ hiến pháp và pháp luật…Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa, khủng hoảng tài chính kinh tế, khủng hoảng ở các lĩnh vực khác như: môi trường, năng lượng, khí hậu, dịch bệnh mang tính ảnh hưởng toàn cầu ngày một gia tăng, người ta lại thường nhắc đến an ninh trong các lĩnh vực kinh tế như: an ninh lương thực, an ninh năng lượng và an ninh tài chính…Với sự xuất hiện ngày càng nhiều vấn đề các cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính, vấn đề an ninh tài chính càng được các quốc gia và thế giới quan tâm nhiều hơn.
Dưới tác động ảnh hưởng của xu thế toàn cầu hóa và tự do hóa tài chính các quốc gia đối mặt với rủi ro tài chính ngày càng lớn và khủng hoảng tài chính đã trở thành mối đe dọa chủ yếu đến anh ninh kinh tế thế giới. Chính vì vậy, tăng cường an ninh tài chính, hoàn thiện và cải cách thể chế giám sát và tài chính, thiết lập cơ chế ứng phó cần thiết, cơ chế ngăn chặn rủi ro linh hoạt, tăng cường phối hợp và hợp tác với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực tài chính, đã trở thành nội dung chính của an ninh tài chính. Từ đó, có thể thấy an ninh tài chính là điều kiện thiết yếu để nền tài chính ổn định và phát triển, tạo tiền đề để đảm bảo an ninh kinh tế và phát triển bền vững nói chung. 12 Trong bài phát biểu của tác giả Durmus Yilmaz, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ tại diễn đàn kinh tế thế giới (The OECD WORLD FORUM) được tổ chức tại Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ, từ ngày 27 đến ngày 30 tháng 6 năm 2007 với chủ đề: “an ninh tài chính và ổn định tài chính – Financial security and stability”; Ngân hàng Trung ương cùng đưa ra định nghĩa về ổn định tài chính là khi năng lực của hệ thống tài chính đứng vững trước những cú sốc và không gây ra tổn hại trong sự dịch chuyển các khoản tiết kiệm sang cơ hội đầu tư.
Một định nghĩa khác có tính đến sự vắng mặt của khủng hoảng trong hệ thống tài chính và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống, tài chính. Ngoài ra, nó cũng được định nghĩa có tính đến sự thực hiện có hiệu quả của hệ thống tài chính trong trường hợp các cú sốc, tình trạng áp lực và thay đổi sâu sắc về cơ cấu. Theo quan điểm của Thống đốc Ngân hàng Trung ương Thổ Nhĩ Kỳ, an ninh tài chính có thể được tăng cường thông qua sự hiện hữu của hệ thống hoạt động trơn tru. Đây là một quan điểm tổng thể và bao gồm hệ thống thanh toán, cơ sở hạ tầng về công nghệ cũng như khung quản lý và giám sát.
Giữa an toàn tài chính và an ninh tài chính có mối liên kết chặt chẽ. Theo tài liệu An ninh tài chính quốc gia lý luận cảnh bảo, đối sách – Nhà xuất bản tài chính tháng 7 năm 2004 của nhóm tác giả do Giáo sư, tiến sỹ khoa học Tào Hữu Phùng (chủ biên) và tài liệu nghiên cứu của nhóm tác giả Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bộ Tài chính, an ninh tài chính có khái niệm như sau: An ninh tài chính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính ổn định, an toàn, vững mạnh và không bị khủng hoảng. Ổn định được hiểu là duy trì được hoạt động bình thường, không có những biến động đột ngột, bất thường. Tuy nhiên, cần phải hiểu sự ổn định trong sự vận động và phát triển.
Ổn định không có nghĩa là cố gắng giữ nguyên mọi thứ như cũ mà là giữ được ổn định trong tiến trình phát triển đi lên, không ngừng cải tiến và hoàn thiện. 13 An toàn được hiểu là trạng thái không bị nguy hiểm do các tác động bên trong và bên ngoài. Giữ được an toàn đồng nghĩa với không tự mình gây hại cho mình đồng thời ngăn chặn và chống lại được sự tấn công phá hoại từ bên ngoài. Nếu ổn định là tiền đề có tính chất nền tảng thì an toàn là cốt lõi chi phối toàn bộ quá trình vận động của tình trạng tài chính.
Vững mạnh là cơ sở cho sự ổn định và an toàn, một trạng thái tài chính yếu không thể giữ được ổn định và đảm bảo an toàn. Trong các tài liệu tiếng Anh người ta sử dụng từ “soundness” hay “strong” để chỉ sự vững mạnh. Khủng hoảng là giới hạn cuối cùng của sự mất an ninh tài chính, tránh được khủng hoảng là mục tiêu tối thượng của mọi giải pháp đảm bảo an ninh tài chính. Khủng hoảng tài chính bao trùm gắn với mất cân đối tài chính, gắn với nghĩa vụ phải thanh toán lớn hơn nhiều phương tiện dùng để thanh toán tại một thời điểm nào đó.
Một số dạng khủng hoảng tài chính phổ biến như: khủng hoảng ngân hàng (Banking Crisis); khủng hoảng nợ quốc gia (National Debt Crisis); khủng hoảng tiền tệ (Monetary Crisis); khủng hoản thị trường chứng khoán (Crisis of Security market); khủng hoảng cán cân thanh toán (Crisis of Balance of payment); khủng hoảng cán cân vãng lai (Crisis of current Account); khủng hoảng cán cân vốn (Crisis of capital Account); khủng hoảng khả năng thanh khoản (Crisis of Liquidity); khủng hoảng ngân sách (Crisis of Government Budget). Bốn nội dung trên đồng thời là 4 nguyên tắc của đảm bảo an ninh tài chính. Ngoài ra, cần nhấn mạnh tới nguyên tắc thứ 5 về tính hệ thống của an ninh tài chính, nghĩa là an ninh của từng bộ phận gắn liền với an ninh của toàn hệ thống, có mối quan hệ tương tác và phụ thuộc lẫn nhau về mặt tổ chức và địa lý, an ninh từng quốc gia không tách rời an ninh khu vực và toàn cầu, đồng thời cả về mặt đối tượng và nội dung của an ninh như an ninh tài chính 14 liên quan chặt chẽ tới an ninh kinh tế, an ninh chính trị, an ninh xã hội, an ninh thông tin… Nghiên cứu sinh cơ bản thống nhất với khái niệm an ninh tài chính của các tác giả đã nghiên cứu, tuy nhiên, khái niệm này mới chỉ được khái quát rất chung ở “tình trạng tài chính”; Và yếu tố vững mạnh không được đề cập rõ ràng, khó hiểu. Nghiên cứu sinh đưa ra khái niệm về an ninh tài chính với nội dung thay yếu tố vững mạnh thành yếu tố phát triển.
Như vậy: an ninh tài chính là một khái niệm cơ bản để chỉ một tình trạng tài chính ổn định, an toàn, phát triển và không bị khủng hoảng. Khái niệm này sẽ được sử dụng trong suốt một quá trình nghiên cứu của Luận án. Để nâng cao tính khoa học và thực tiễn của an ninh tài chính, cần phải nghiên cứu sâu hơn về thị trường tài chính, các khu vực tài chính. Phân loại an ninh tài chính Để có nghiên cứu tổng quát an ninh tài chính, dẫn đến nghiên cứu sâu hơn về thị trường tài chính, từ khái niệm và các nghiên cứu ở trên, có nhiều cách thức để phân loại an ninh tài chính, có thể phân loại an ninh tài chính như sau: 1.
Phân loại theo cấp hay phạm vi quản lý a. An ninh tài chính quốc gia: Tài chính quốc gia theo nghĩa rộng bao hàm toàn bộ nền tài chính vĩ mô của một nước có chủ quyền và nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý nền tài chính quốc gia. Theo nghĩa hẹp, tài chính quốc gia hay tài chính nhà nước là bộ phận của nền tài chính vĩ mô thuộc quyền quản lý và điều tiết trực tiếp của nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước và các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách. Bản chất của an ninh tài chính cho khu vực này là duy trì sự ổn định, an toàn và vững mạnh 15 của thu chi Ngân sách nhà nước, giữ thâm hụt ngân sách nhà nước ở mức hợp lý, đảm bảo cân đối tài chính cho các quỹ ngoài ngân sách.
An ninh ngân sách nhà nước là hạt nhân của an ninh tài chính quốc gia. An ninh ngân sách nhà nước là trạng thái ngân sách ổn định, bền vững, an toàn, lành mạnh, có cơ cấu hợp lý, có khả năng tạo lập và phân phối các nguồn lực tài chính có hiệu quả cao. Thực chất của vấn đề an ninh ngân sách nhà nước chính là mức độ an toàn hợp lý được chấp nhận về quy mô, tổng mức, cũng như cơ cấu thu, cơ cấu chi, mối quan hệ tài chính giữa các cấp chính quyền được xét trong quan hệ đa chiều với các yếu tố kinh tế vĩ mô (tăng trưởng kinh tế, giá cả, lạm phát, thất nghiệp, cán cân thanh toán…), các nhân tố ảnh hưởng về chính trị, kinh tế xã hội, sự phát triển của các vùng, miền. An ninh ngân sách nhà nước bảo đảm cho hoạt động của nhà nước được diễn ra bình thường và hạn chế đến mức thấp nhất những tổn thất, lãng phí trong quá trình nhà nước sử dụng ngân sách nhà nước để phát triển kinh tế - xã hội, tạo được thế chủ động cho nhà nước trong quá trình quản lý và điều hành ngân sách nhà nước.
An ninh ngân sách nhà nước phải đi đôi với việc thiết lập và thực thi hệ thống pháp luật về ngân sách nhà nước phù hợp, nhất quán, đồng bộ, minh bạch, ổn định, đồng thời tăng cường giám sát hiệu quả hoạt động của ngân sách nhà nước. An ninh ngân sách nhà nước có liên quan chặt chẽ đến kiềm chế nợ nước ngoài của chính phủ ở mức độ an toàn và duy trì khả năng trả nợ, tránh lâm vào tình trạng vỡ nợ.